CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1. Đặc điểm quá trình XNK hàng hóa vận chuyển bằng đương biển và sự cần thiết của bảo hiểm Trước lợi nhuận mà ngành thương mại hàng hải mang lại cũng như mức độ và số lượng rủi ro phải ứng phó, các chủ tàu, các nhà buôn bán, những người vận tải luôn luôn tìm kiếm những hình thức bảo đảm an toàn cho quyền lợi của mình. Đầu tiên là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên người ta đã tìm cách giảm nhẹ tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách san nhỏ lô hàng của mình ra làm nhiều chuyến hàng. Đây là cách phân tán rủi ro, tổn thất và có thể coi đó là hình thức nguyên khai của bảo hiểm.
Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy một khoản phí. Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren. Đến thế kỉ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán và hàng hải quốc tế với Luân Đôn là trung tâm phồn thịnh nhất. Tàu của các nước đi từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập bến hai bờ sông Thame của thành phố Luân Đôn.
Các tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm … để giao dịch, trao đổi tin tức, bàn luận trực tiếp với nhau. Edward Lloyd’s là một thuyền trưởng về hưu bắt đầu mở quán cà phê ở phố Great Tower ở Luân Đôn vào khoảng năm 1692. Ngoài việc quản lý quán cà phê, năm 1696 Edward Lloy’s còn cho ra một tờ báo tổng hợp các tình hình tàu bè và các vấn đề khác nhằm cung cấp thông tin cho các khách hàng của ông. Tuy nhiên việc làm chính của ông vẫn là cung cấp địa điểm để khách hàng đến giao dịch bảo hiểm, hội họp.
Sau khi Edward Lloyd’s qua đời người ta thấy rằng cần phải có một 4 nơi tương tự như vậy để các nhà khai thác bảo hiểm hàng hải tập trung đến giao dịch bảo hiểm và năm 1770, “Society of Lloyd’s” với tư cách là một tổ chức tự nguyện đã thành lập. Tổ chức này hoạt động với tư cách là tổ chức tư nhân đến năm 1871 thì hợp nhất lại theo luật Quốc hội và trở thành Hội đồng Lloyd’s và sau này đã trở thành nơi giao dịch kinh doanh bảo hiểm và hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới. Hiện nay, mặc dù các đội tàu của châu Á đảm nhận vận chuyển từ 40- 45% lượng hàng hóa trên thế giới nhưng thị phần bảo hiểm hàng hải phần lớn vẫn thuộc về các công ty bảo hiểm lớn của châu Âu, đặc biệt là nước Anh Bảo hiểm hàng hóa XNK có liên quan chặt chẽ với quá trình XNK, do vậy để hiểu rõ loại hình bảo hiểm này, cần phải hiểu rõ những đặc điểm của quá trình XNK hàng hóa. Quá trình XNK hàng hóa có những đặc điểm sau: Việc XNK hàng hóa thường được thực hiện thông qua các hợp đồng giữa người mua và người bán với nội dung về số lượng, phẩm chất, kí mã hiệu, quy cách đóng gói, giá cả hàng hóa, trách nhiệm thuê tàu và trả cước phí, phí bảo hiểm, thủ tục và đồng tiền thanh toán.
Có sự chuyển giao quyền sở hữu lô hàng XNK từ người bán sang người mua. Hàng hóa XNK thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải chịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch…tùy theo qui định của mỗi nước. Đồng thời để được vận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới phải mua bảo hiểm theo tập quán thương mại quốc tế. Hàng hóa XNK thường được vận chuyển bằng các phương tiện vận chuyển khác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện trong đó có tàu biển.
Người vận chuyển hàng đồng thời cũng là người giao hàng cho người mua. Hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển phải thông qua người vận chuyển tức cả người mua và người bán đều không trực tiếp kiểm soát được những tổn thất có thể gây ra cho hàng hóa của mình mà đôi khi nó là do hành động cố ý của người chuyên trở. Và theo hợp đồng vận chuyển thì người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hóa trong một phạm vi giới hạn nhất định. Vì vậy để giảm rủi ro trong kinh doanh, các nhà XNK thường phải mua bảo hiểm cho hàng hóa.
5 Ta cũng thấy, quá trình XNK có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốn bên chủ yếu: người bán, người mua, người vận chuyển, người bảo hiểm. Nói chung trách nhiệm của các bên được phân định dựa vào ba loại hợp đồng: HĐ mua bán, HĐ vận chuyển, HĐBH. Ba hợp đồng này là cơ sở pháp lí phân định trách nhiệm các bên liên quan và trách nhiệm này phụ thuộc vào điều kiện giao hàng của HĐ mua bán. Theo các điều kiện thương mại quốc tế “INCOTERMS 2000” có 13 điều kiện giao hàng, được phân thành 4 nhóm E, F, C, D như sau: Nhóm E: (ex-work) giao hàng tại cơ sở của người bán.
Nhóm F: Cuớc vận chuyển chính trưa trả, gồm: +FCA (Free carrier): Giao hàng cho người vận tải; +FAS (Free alongside ship): Giao hàng dọc mạn tầu; +FOB (Free on board): Giao hàng lên tàu. Nhóm C: Cước vận chuyển chính đã trả, gồm: +CFR (Cost and Freight): Tiền hàng và cước phí; +CIF (Cost Insurance Freight): Tiền hàng, phí bảo hiểm, cước phí; +CPT (Carriage paid to.): Cước trả tới; +CIP (Carriage and Insurance paid to.): Tiền cước và phí bảo hiểm trả tới. Nhóm D: Nơi hàng đến, tức người bán giao hàng tại nước người mua +DAF (Delivered at frontier): Giao hàng tại biên giới: +DES (Delivered ex-ship): Giao hàng tại tàu; +DEQ (Delivered ex-quay): Giao hàng tại cầu cảng; +DDU (Delivered duty unpaid): Giao hàng tại đích, chưa nộp thuế; +DDP (Delivered duty paid): Giao hàng tại đích, đã nộp thuế. Trong đó thông dụng nhất là điều kiện FOB, CFR và CIF.
Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tùy theo từng điều kiện cụ thể mà có thể có thêm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm. Nếu NK hàng theo điều kiện FOB, hay theo điều kiện CFR thì sẽ giữ được dịch vụ vận tải và bảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm. Nếu trong hoạt động XK, bán hàng theo giá CIF, người bán cũng giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm. Như vậy sẽ thúc đẩy ngành 6 hàng hải và ngành bảo hiểm quốc gia đó phát triển.
Như vậy, từ đặc điểm của quá trình XNK hàng hóa vận chuyển bằng đường biển có thể thấy hàng hóa XNK có thể gặp rất nhiều rủi ro: do yếu tố tự nhiên, do yếu tố xã hội con người, do yếu tố kĩ thuật và trên thực tế cho thấy biện pháp hữu hiệu nhất đối phó với rủi ro là bảo hiểm cho hàng hóa. Mặc khác, quá trình XNK hàng hóa liên quan đến nhiều quốc gia, chủ thể khác nhau nên bảo hiểm ra đời không những đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn cho các chủ hàng mà còn góp phần thúc đẩy mối quan hệ quốc tế thông qua con đường thương mại. Vì vậy, bảo hiểm hàng hóa XNK là sự cần thiết khách quan, đến nay đã trở thành tập quán thương mại quốc tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hoạt động ngoại thương ngày càng phát triển thì bảo hiểm hàng hóa XNK cũng đạt đến sự chuẩn hóa cao hơn.
Tuy nhiên, xét về tổng thể, bảo hiểm hàng hóa có những tác dụng cơ bản sau: Thứ nhất, góp phần ổn định sản xuất và ổn định đời sống. Đây là nghiệp vụ thường có nhiều hợp đồng giá trị lớn, nếu chuyến hàng gặp rủi ro có thể gây thiệt hại tài chính rất lớn, thậm chí là phá sản doanh nghiệp. Nhờ có bồi thường về tài chính; các tổ chức, cá nhân có thể nhanh chóng ổn định được sản xuất kinh doanh, khôi phục sản xuất nhanh chóng. Thứ hai, góp phần đề phòng hạn và chế tổn thất.
Thông qua việc thực hiện cũng như nhắc nhở người tham gia bảo hiểm các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất nhằm hạn chế số vụ rủi ro và giảm mức độ thiệt hại đồng thời nâng cao ý thức tự bảo vệ hàng hóa, tài sản, tính mạng của người tham gia bảo hiểm, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Thứ ba, cũng giống như tác dụng của bảo hiểm nói chung, bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển có khả năng tập trung được nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế, góp phần tạo việc làm, tăng thu cho ngân sách. Thứ tư, ở tầm vĩ mô, nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước có tác dụng góp phần giảm chi ngoại tệ cho đất nước, thúc đẩy ngành bảo hiểm và ngành vận tải phát triển. Do khi NK theo giá FOB, XK theo giá CIF thì 7 đất nước sẽ giữ được dịch vụ vận tải và bảo hiểm, giảm chi ngoại tệ.
Thứ năm, bảo hiểm hàng hóa XNK góp phần thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế, ngành hàng hải và mối quan hệ giữa các nước thêm bền vững. Tóm lại, bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển là một loại hình bảo hiểm rất quan trọng và không thể tách rời hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế bởi nó mang lại những tác dụng to lớn đối với các bên liên quan trong quá trình XNK cũng như với nền kinh tế mỗi nước và thương mại thế giới. Các rủi ro và tổn thất 1.Rủi ro đối với hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển Trong hoạt động hàng hải có nhiều loại rủi ro khác nhau làm thiệt hại đến hàng hóa và phương tiện vận chuyển. Nhưng những rủi ro hàng hải có liên quan đến bảo hiểm là: thiên tai, tai nạn bất ngờ của biển gây ra làm hư hỏng hàng hóa và phương tiện vận chuyển.
Phân loại: có hai cách phân loại rủi ro hàng hải phổ biến. Căn cứ vào nguồn gốc sinh ra rủi ro Nếu căn cứ vào nguồn gốc sinh ra rủi ro, rủi ro hàng hải có thể phân thành các loại sau: Rủi ro do thiên tai: thiên tai là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động, bão, lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần, động đất, núi lửa… mà con người không chống lại được.