CHƯƠNG I KHÁI QUAT CHUNG VE NLD DI TRU LA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIET NAM VÀ QUYEN CUA NLD DI TRU LA NGƯỜI NUOC NGOAI TAI VIET NAM 1. Một số khái niệm về NLD di trú là người nước ngoài tai Việt Nam Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đang tạo ra dòng di chuyên lao động quốc tế rất đáng quan tâm. Sự di chuyên lao động này có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế gidi. Ở Việt Nam, mở cửa thị trường lao động đã và đang tạo điều kiện cho việc di chuyên lao động Việt Nam ra nước ngoài, đồng thời cũng tạo điều kiện cho lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam ngày một tăng.
Dòng lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam rất đa dạng về trình độ, lứa tuổi, quốc tịch, tôn giáo, hình thức, nghề nghiệp và phong tục tập quán. Với xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, lao động di trú là một tất yếu không thé lang tránh, nói cách khác, lao động nước ngoài ở bất kỳ quốc gia nào đều là một tất yếu trong tiến trình toàn câu hóa của quôc gia đó. Các nghiên cứu quốc tế đã khăng định: “Lao động di trú đã luôn là một phần không thé tách rời của nền văn minh nhân loại, và những cuộc tranh luận nóng bỏng về hình thức của nó, cũng như khung khô pháp lý và vị trí thực tế đã đi cùng với hình thức đó từ thời thượng cổ không chỉ ở Châu Âu” [27. Nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định rằng: “Lao động di trú là hiện tượng diễn ra từ lâu trong lịch sử nhân loại nhưng phát triển đặc biệt nhanh chóng từ đầu thế kỷ XX tới nay” và “Cùng với toản cầu hóa kinh tế, dự đoán van dé lao động di trú sẽ trở nên hết sức phô biến trong thé kỷ XXI và là một trong những đặc trưng cơ bản của thế kỷ này” [18,tr.
Ở góc độ nghiên cứu cá nhân, TS. Lưu 12 Bình Nhưỡng cũng đưa ra nhận định răng: “Người nước ngoài vào Việt Nam làm việc là xu thế tất yếu do tác động của quá trình toàn cầu hóa quan hệ lao động và hội nhập kinh tế” [19,tr. Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Nguyễn Thị Hải Vân khang định: “ Trong xu thế mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam, lao động là người nước ngoài vào nước ta làm việc cũng là một xu thé tất yêu” [20,tr. Thực vậy, không nằm ngoai xu thé chung cua thoi dai, Viét Nam da, đang va sé chu động tiép nhận hoặc miễn cưỡng tiếp nhận một số lượng không nhỏ lao động người nước ngoài, bao gồm cả NLD hợp pháp và NLD bất hợp pháp.
Theo thống kê gần đây của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tính đến cuối năm 2021, có 101.550 NLD nước ngoài làm việc tại Việt Nam, trong đó: số lao động không thuộc diện cấp giấy phép lao động chiếm 7,35%, số lao động thuộc diện cấp phép chiếm 92,65%, số lao động đã được cấp giấy phép chiếm 78,18%, số lao động đã nộp hồ sơ chờ cấp phép hoặc đang hoàn thiện giấy tờ chiếm 21,83%. Số lao động nước ngoài nói trên đến từ hơn 100 quốc gia có quốc tịch khác nhau, trong đó các nước Châu Á bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan. chiếm khoảng 58%; quốc tịch các nước Châu Âu chiếm khoảng 28,5% và quốc tịch các nước khác chiếm khoảng 13,5% [9,tr. Số lượng lao động nước ngoài này có cả ảnh hưởng tích cực va ca ảnh hưởng tiêu cực tới nên kinh tế, xã hội Việt Nam trong những năm qua.
Việc làm rõ khái niệm “lao động di trú”, “lao động nước ngoài” là một van đề mau chốt dé xác định không chỉ đối tượng và phạm vi quản lý, mà còn xác định phương thức quản lý đối với từng loại đối tượng được phân chia. Dinh nghĩa “NLD di trú” va “NLD di tri là người nước ngoài ở Việt Nam” Theo Từ điển tiếng Việt, “di trú” có nghĩa là: (1) dời đến ở nơi khác, 13 (2) (hiện tượng một số loài chim, thú) hàng năm chuyển đến sống ở nơi ấm áp, dé tránh rét; “di cư” có nghĩa là: (1) đời đến ở một miền hay một nước khác dé sinh sống, (2) như di trú [27]. Như vậy, “di trú” và “di cư” đều có nghĩa là đến ở nơi khác và có thể hiểu như nhau. Ngoài ra, khái niệm “di trú” mang tính tạm thời ở nơi khác, còn khái niệm “di cư” mang tính dứt khoát, đi ở nơi khác.
Trên thực tế hai khái niệm “di trú” và “đi cu” không có sự phân biệt rõ ràng. Cũng là thuật ngữ “Migrant worker” nhưng khi dich sang tiếng Việt có hai cách dịch khác nhau. Theo Tổ chức di cư quốc tế tại Việt Nam “Migrant worker” được dich là NLD di cư, bên cạnh đó theo nhiều sách nghiên cứu thì thuật ngữ này được dịch là NLD di trú. Theo từ điển Oxford advanced learner’s dictionary, “Migrant” có nghĩa là một người chuyển từ nơi nay đến nơi khác để tìm việc hoặc một loài chim, một loài động vật chuyên từ nơi này đến nơi khác theo mùa.
Như vậy, “Migrant worker” dịch là NLD di trú sẽ hợp lý hơn, thể hiện tính tạm thời di chuyên của NLD dé tìm việc, phân biệt với người di cư di chuyển dé tim nơi ở mới. Nhìn chung, về mặt ngôn ngữ, NLD di trú được hiểu là NLD tam thời di chuyên từ vùng này sang vùng khác dé tìm việc. Có thé là di chuyển từ vùng này đến vùng khác trong phạm vi biên giới của một quốc gia hoặc là di chuyên từ quôc gia này đên quôc gia khác. Ở cấp độ quốc tế, khái niệm NLD di trú theo Công ước ICRMW được nhiều nước công nhận.
Điều 2 Công ước ICRMW định nghĩa: NLĐ di trú (Migrant worker) là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân[19]. Như vậy, khái niệm NLD di trú trong Công ước ICRMW không bao ham NLD đến làm việc ở nơi khác vẫn thuộc nước mà người đó là công dân. Điều này có thé do các nguyên nhân sau: Thi? nhất, do Công ước ICRMW là văn bản pháp lý quốc tế. Vì vậy, phạm vi điều chỉnh của Công ước chỉ liên quan đến 14 những vấn dé mang tính chất quốc tế.
NLD di chuyển trong phạm vi một quốc gia là van dé mang tính nội bộ của quốc gia đó nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của Công ước. Thir hai, xuất phát từ đặc điểm của NLD di trú là những người dễ bị tổn thương khi họ phải xa tô quốc dé đến một nước khác làm việc. Họ không phải là công dân của nước đến nên không được hưởng các quyền công dân ở nước sở tại. Đồng thời, họ phải đối mặt với những khó khăn nảy sinh tại quốc gia nơi họ đến như bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, tập quán.
Ngay ca NLD di trú sẽ làm việc ở một nước khác cũng gặp phải những van đề khó khăn như: họ phải lo các chi phí học tiếng, học nghề, phương tiện đi sang nước khác làm việc, ký kết hợp đồng làm việc, đặt cọc tiền. Thực tế cho thấy, nhiều người đã phải cầm cố toàn bộ tài sản trong nước thậm chí là đi vay tiền dé lo các chi phí chuẩn bị đi lao động ở nước ngoài, nhiều trường hợp bị lừa hết tiền mà vẫn không được di; cũng có những trường hợp do không hiểu biết nên đã ký hợp đồng bất lợi cho minh.Chinh vì vậy, Công ước ICRMW ra đời dé đưa ra các biện pháp bao vệ NLĐ di trú và trong nhiều trường hợp Công ước ICRMW cũng bảo vệ quyên của các thành viên trong gia đình NLD di trú. Bên cạnh đó, Điều 3 Công ước ICRMW cũng liệt kê những đối tượng không được coi là NLD di trú, cụ thé như sau: - Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tô chức quốc tế, hoặc những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước sang một nước khác dé thực hiện các chức năng chính thức mà việc tuyển dụng đó và địa vị của người đó đã được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế chung hoặc các hiệp định hay công ước cụ thê; - Những người được cử hoặc tuyên dụng bởi một nước hoặc người thay mặt cho nước đó ở nước ngoàải tham gia các chương trình phát triên và các 15 chương trình hợp tác khác mà việc tiêp nhận va dia vi của người đó được điêu chỉnh theo thỏa thuận với quôc gia nơi có việc làm và theo thỏa thuận này người đó không được coi là NLD di trú; - Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia gốc để làm việc như những nhà đầu tư; - Những người tị nạn và không có quốc tịch, trừ khi việc áp dụng Công ước được quy định trong pháp luật của quốc gia liên quan, hoặc các văn kiện quôc tê đang có hiệu lực đôi với quôc gia thành viên liên quan; - Sinh viên và học viên; - Những người đi biển hay người làm việc trên các công trình đi biển không được nhận vào cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng lương ở quốc gia nơi có việc làm. Nhìn chung, khái niệm NLĐ di trú trong Công ước ICRMW khá rộng, nó không phụ thuộc vào NLD đó đã làm việc ở nước khác chưa, công việc họ làm là gì và việc làm đó có được pháp luật của các nước công nhận hay không.
Điều này cho thấy sự quan tâm chủ yếu của Công ước là NLD di trú và các biện pháp bảo vệ họ hơn là các biện pháp dé quản lý họ. Hiện nay, Công ước ICRMW có 46 thành viên [34], là văn kiện pháp lý quốc tế có ảnh hưởng rộng nhất trong việc giải quyết van dé NLD di trú. Các quy định của công ước được xem là nguyên tắc chung đề xây dựng các văn bản pháp lý khác về cùng vấn đề NLĐ di trú. Chính vì lẽ đó, trong phạm vi luận văn này, khái niệm NLD di trú được hiểu theo định nghĩa tại Công ước ICRMW, và đối tượng nghiên cứu là NLD di trú là người nước ngoài ở Việt Nam theo con đường xuất khẩu lao động hợp pháp và theo con đường bat hợp pháp.
Việt Nam chưa tham gia Công ước ICRMW, và trong pháp luật Việt Nam chưa có văn bản nào sử dụng khái niệm “NLD di trú” hay “NLD di trú là người nước ngoài.