CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh viêm mũi dị ứng và viêm xoang 1. Khái niệm bệnh viêm mũi dị ứng, viêm xoang Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là tình trạng viêm niêm mạc mũi biểu hiện các triệu chứng: Ngứa mũi; hắt hơi; chảy mũi và ngạt mũi bởi phản ứng viêm qua trung gian IgE do tiếp xúc dị nguyên đường hô hấp, các triệu chứng có thể tự khỏi hoặc do điều trị. Thường kèm theo viêm kết mạc dị ứng (với đặc trưng là ngứa, chảy nước mắt, đỏ mắt, thậm chí sưng nề mắt) [4]. Viêm xoang cấp là bệnh thường gặp nhất, có người cho là 1/2 dân số đã từng bị viêm xoang cấp 1 lần.
Bệnh có thể gặp từ trẻ nhỏ vài tháng tuổi đến người già, rất thường gặp ỏ lứa tuổi học tập, lao động do phải tiếp xúc thường xuyên với môi trường ô nhiễm trong sinh hoạt đặc biệt ở các nhà máy, hầm mỏ, ở những người bị viêm mũi, có cơ địa dị ứng hút thuốc lá, cơ thể suy nhược gặp với tỷ lệ cao hơn. Viêm xoang cấp thường gặp viêm một xoang trong đó xoang hàm hay gặp nhất, ở trẻ em nhỏ dưới 3 - 4 tuổi xoang sàng lại dễ gặp hơn; cũng hay gặp viêm cả khối xoang trước; hàm - sàng trán , trong các trường hợp do nhiễm vi khuẩn hay virút. Việc chẩn đoán viêm xoang cấp không khó, nên lưu ý có hiểu biết có thế tự chẩn đoán dựa trên các dấu hiệu lâm sàng khá điển hình như sốt: khi bị viêm xoang cấp bao giờ cũng có sốt nhưng mức độ khác nhau tuỳ từng người. Với trẻ em sốt thường rõ rệt, sốt cao: 38 - 39°C, trong vài ngày, ở người lớn khỏe mạnh, chỉ sốt nhẹ, thoáng qua, có hiện tượng ngây ngấy sốt, gai rét, người mệt mỏi.
Đau, nhức vùng mặt là dấu hiệu chính, đau thành từng cơn, rõ rệt về sáng, vùng mặt tương ứng với xoang bị viêm. Nếu viêm xoang hàm ấn ngón tay vùng má bên cạnh rãnh mũi thấy đau rõ rệt. Nếu ở vùng gốc mũi là viêm xoang sàng. Với xoang trán ấn vùng trên lông mày phía trong hốc mắt.
Chảy mũi mủ luôn gây khó chịu, vì chảy nhiều, liên tục trong ngày. Nếu chảy mũi nhầy, đặc, dính thường do virus. Nếu do virus sẽ chảy mủ đặc, có màu vàng hay nâu bẩn, đục, có mùi hôi tanh khó chịu. Nếu xì mũi mạnh có thể chảy mủ lẫn dây máu.
Ngạt tắc mũi là triệu chứng không thể thiếu, tuỳ theo bên viêm, mức độ viêm gây ngạt hay tắc mũi một hay cả hai bên. Nếu ngạt tắc mũi cả hai bên sẽ gây mất chức năng ngửi, ngửi mũi không rõ, tiếng nói không rõ, không vang. Do ngạt tắc mũi hai bên phải há mồm thở bù về đêm, nếu trời lạnh gây đau, rát họng, trẻ em đưa tối ho, kém ngủ, kém ăn [38].Các vị trí viêm xoang thường gặp [38] 1. Một số phương thức điều trị bệnh viêm mũi dị ứng và viêm xoang hiện nay Trong nhiều trường hợp viêm xoang cấp được nghỉ ngơi, điểu trị đúng sẽ khỏi nhanh, không để lại ảnh hưởng gì.
Tuy có thể điểu trị khỏi được nhưng cần lưu ý viêm xoang cấp dễ đưa tới viêm xoang mạn phức tạp hơn và có các biến chứng. Hướng xử trí: cơ bản thực hiện các nguyên tắc sau: Nghỉ ngơi, giảm các hoạt động mạnh, căng thẳng, tránh các yếu tố kích thích như bụi, nóng, ẩm, môi trường ô nhiễm dễ lây - nhiễm khuẩn. Đảm bảo mũi thở thông: không bị dịch nhầy, mủ ứ đọng trong hốc mũi. Nếu hốc mũi có nhiều mủ cần nhỏ rửa lần đầu để thở được thông, sau vài phút xì mũi sạch, rồi nhỏ thuốc để sát khuẩn và giữ mũi được thông thoáng lâu.
Với trẻ nhỏ (dưới 3 tuổi) chưa biết cách xì mũi sau khi nhỏ mũi lần đầu cho thông thoáng, nên nhỏ dung dịch muối sinh lý (NaCl 0,9 %) hay xịt nước biển (sinh lý) để trôi hết các ứ đọng trong hốc mũi rồi nhỏ mũi tiếp sau vài phút. Nếu được thực hiện hút sạch mũi; bằng bóng cao su tự hút mũi, hoặc do thầy thuôc thực hiện sẽ rất có tác dụng. Lưu ý: nếu chỉ nhỏ mũi một lần sẽ rất ít tác dụng, nếu xì mũi, hút mũi khi mũi chưa thông sẽ gây hại vì dịch mủ ở mũi có thể bị đẩy ngược vào xoang, gây chảy máu mũi. Nếu được thực hiện: khí dung mũi - xoang hay xông hơi mũi xoang sẽ có tác dụng rất tốt.
12 Sử dụng huốc toàn thân: chỉ thực hiện khi tình trạng phẫu thuật rõ (sốt cao, đau nhức, chảy mủ đặc hôi .) hoặc khi đã ảnh hưởng đến phổi. Các thuốc thường dùng: kháng sinh, kháng viêm: giảm phù nề, và vitamin C. Tổng quan cây cỏ ngũ sắc 1. Đặc điểm thực vật Cây có ngũ sắc còn có tên gọi là cây cỏ hôi, tiêu viêm thảo, cây hoa ngũ vị, cây bù xít, thắng hồng kế, cỏ thúi địch, hoa ngũ sắc Tên khoa học: Ageratum conyzoides L.
Họ: Asteraceae Phân họ: Asteales Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân bố: Cỏ ngũ sắc là loài cỏ nhiệt đới nên chúng phân bố ở vùng Tây Phi, Châu Á và Nam Mỹ. Ở Việt Nam, phân bố rộng khắp các vùng miền [1]. Đặc điểm: Cỏ nhất niên, thẳng mềm, có lông đa bào mềm, nhiều hay ít phân nhánh, có mùi thơm, cao khoảng 30-60 cm, mang một cụm hoa ở ngọn. Lá đơn, mọc cách trên thân, hình bầu dục, cuống lá dài khoảng 1-3 cm, phiến lá mềm như nhung, bao phủ bởi một lớp lông mịn trên cả 2 mặt, lá khía răng cưa đều, đáy tròn, đỉnh nhọn, gân lá rõ.
Hoa hợp thành nhóm 8 đến 15 bông đầu, đường kính khoảng 3-4 mm, họp lại như bó hoa ở chót thân, hoa đầu màu hơi tím, tổng bao gồm 3 hàng lá bắc thuôn, dài, nhọn, 3 gân rõ rệt, không đĩa, cuống hoa ngắn 0,5-2cm, vành hoa hình ống cao, lúc đầu có màu xanh hơi tím sau đó mầu trắng. Quả bế không lông, mang ở đầu 5 vảy thon nhọn, màu trắng, kem, khoảng 2 mm dài, bìa có răng đen khi trưởng thành. Nhân giống bằng hạt, phát tán nhờ gió và nước, hạt có thể này mầm liền sau khi phát tán. Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất [9] Hình 1.
Phần trên mặt đất của cây cỏ ngũ sắc Ageratum conyzoides L. Thành phần hoá học trong cỏ ngũ sắc Một loạt các hợp chất hóa học bao gồm alkaloid, coumarin, chromene, flavonoid, terpines, sesquiterpenes, benzofurones, sterol và terpenoids được tìm thấy có trong loài này [1] [3]. Thành phần chính được công bố đều liên quan tới thành phần có trong tinh dầu của cây cỏ ngũ sắc. Hàm lượng dầu thay đổi ngẫu nhiên từ 0,11 đến 0,58% đối với lá và từ 0,03 - 0,18% đối với rễ tùy thời điểm trong năm.
Từ quá trình chưng cất nước của hoa tươi, hàm lượng dầu được tìm thấy là 0,2%. Sản lượng dầu từ chiết xuất ete dầu mỏ của hạt là 26%. Một số nghiên cứu ứng dụng bào chế các dạng thuốc từ dịch chiết cỏ ngũ sắc Năm 2014, Rajmani prajapati và cộng sự đã phát triển các công thức bào chế dạng nhũ tương từ dịch chiết cỏ ngũ sắc đồng thời nghiên cứu độ ổn định, tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết và các công thức bào chế nhũ tương từ các dịch chiết đó. Các thành phần công thức được phát triển với Tween 80, Span 80, Nonyl phenol ethoxylate, Methyl oleate , dầu đậu tương đều cho thấy sự ổn định, các thành phần hoá học cũng như sự ổn định của các thành phần trong công thức thuốc đều được giữ nguyên và phát huy tác dụng kháng khuẩn tốt đối với Escherichia coli, Staphylococcus aureusn và Candida albicans [26] Năm 2019, Mia Permawati và cộng sự đã nghiên cứu bào chế dạng thuốc nanoemulgel từ dược liệu cỏ ngũ sắc Ageratum conyzoides L.
và cỏ lưỡi rắn Oldenlandia corymbosa L. và tiến hành đánh giá tác dụng kháng viêm trên chuột. Nanoemulgel với các thành phần là dịch chiết cỏ ngũ sắc và cỏ lưỡi rắn được hoà tan trong ethanol 96% (5% v/v) và propylenglycol (10%; v/v) bằng phương pháp siêu âm; các thành phần tá dược khác bao gồm PEG 400, Tween 80, dầu dừa tinh khiết (virgin coconut), các chất bảo quản được thêm vào bao gồm propyl paraben, methyl paraben, butylateted, hydroxytoluene, nước cất. Một số đặc tính của nanogel được xác định như kích thước hạt, chỉ số PDI, thế zeta, , pH, độ nhớt.
Các đặc tính được đánh giá của dạng thuốc nanoemulgel cho thấy cấu trúc hình thành ổn định, việc sử dụng ethanol, propylenglycol làm tăng độ tan của các thành phần có tác dụng dược lý trong dịch chiết và làm tăng thấm các thành phần qua da. Tween và PEG là chất diện hoạt và đồng diện hoạt rất thích hợp để dùng đối với các công thức thuốc có chứa thành phần hoạt chất là quervetin. [22] Cũng năm 2019, Sirikunya sayompark và cộng sự phát triển thuốc dạng gel có chứa dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum conyzoides (L. Bột cỏ ngũ sắc được ngâm trong ethanol 95%.
Duy trì ở tỉ lệ 1:5 (kl/tt) trong 5 ngày. Hỗn dịch được khuấy vài lần mỗi ngày và lọc. Phần cặn được ngâm thêm với cùng một thể tích dung môi hai lần. Các dịch chiết dung môi kết hợp được cô đặc dưới áp suất giảm thông qua thiết bị cô quay ở 40°C để thu được dịch chiết thô và được làm khô đến không đổi trọng lượng trong bình hút ẩm.
Dịch chiết thô đã được lưu trữ trong tủ đông sâu ở -20°C cho đến khi được yêu cầu. Sau đó dịch chiết được 14 hoà tan lại bằng hỗn hợp propylenglycol, glycerin và ethanol 95%, thành phần tạo gel Carbopol 934, triethanolamin, thành phần khác phenoxyethanol và nước cất để tạo chế phẩm gel. Một số đặc tính gel cũng đã được đánh giá như màu sắc: gel có màu xanh lá, trong suốt, pH nằm trong khoảng từ 5-7, độ nhớt nằm trong khoảng từ 700 – 800 cps. [33] Tại Việt Nam, năm 2017, PGS.
TS Nguyễn Đức Vượng (Đại học Quảng Bình) đã có sự chia sẻ trên tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ Quảng Bình số 1/2017 về việc điều chế dung dịch xịt chữa viêm xoang từ cỏ ngũ sắc. Tinh dầu được chiết xuất đơn giản bằng phương pháp ngưng tụ sau đó được pha lại trong nước muối sinh lý NaCl 0,9% và tinh dầu tỏi.