Đề tài: Bào chế thuốc xịt mũi từ dịch chiết Ageratum conyzoides – ĐH Phenikaa

Khóa luận nghiên cứu bào chế thuốc nhỏ mũi dạng xịt từ dịch chiết cây cỏ ngũ sắc Ageratum conyzoides. Tìm hiểu công thức, phương pháp và hiệu quả của thuốc.

Trường đại học

Đại học Phenikaa

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

43
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về bệnh viêm mũi dị ứng và viêm xoang

1.1.1. Khái niệm bệnh viêm mũi dị ứng, viêm xoang

1.1.2. Một số phương thức điều trị bệnh viêm mũi dị ứng và viêm xoang hiện nay

1.2. Tổng quan cây cỏ ngũ sắc

1.2.1. Đặc điểm thực vật

1.2.2. Thành phần hoá học trong cỏ ngũ sắc

1.2.3. Một số nghiên cứu ứng dụng bào chế các dạng thuốc từ dịch chiết cỏ ngũ sắc

1.3. Tổng quan về dạng thuốc nhũ tương

1.3.1. Khái niệm nhũ tương

1.3.2. Phân biệt các loại nhũ tương

1.3.3. Thành phần nhũ tương

1.3.4. Kỹ thuật bào chế nhũ tương

1.3.5. Một số đặc tính lý hoá của dạng thuốc nhũ tương

1.3.6. Thuốc dùng qua đường mũi và một số điểm cần quan tâm khi thiết kế dạng thuốc sử dụng tại mũi

1.4. Giải phẫu và sinh lý mũi

1.4.1. Cấu tạo xoang mũi

1.4.2. Ưu, nhược điểm của hệ thống phân phối thuốc qua đường mũi

1.4.3. Một số điểm cần quan tâm khi thiết kế công thức thuốc nhỏ mũi

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

2.2. Nguyên liệu và thiết bị nghiên cứu

2.2.1. Nguyên liệu và hoá chất

2.2.2. Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Lựa chọn dạng chiết xuất dược liệu cỏ ngũ sắc để bào chế thuốc nhỏ mũi

2.3.2. Phương pháp định tính một số thành phần trong dịch chiết

2.3.3. Xây dựng công thức và quy trình bào chế nhũ tương nhỏ mũi

2.3.4. Phương pháp bào chế nhũ tương

2.3.5. Phương pháp đánh giá một số đặc tính của nhũ tương nhỏ mũi

2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ, BÀN LUẬN

3.1. Lựa chọn dạng chiết xuất dược liệu cỏ ngũ sắc để bào chế thuốc nhỏ mũi

3.2. Chiết xuất cỏ ngũ sắc

3.3. Khảo sát, lựa chọn các thành phần công thức của thuốc nhỏ mũi. Xác định tỷ lệ các thành phần

3.4. Thiết lập công thức và quy trình bào chế thuốc nhỏ mũi dạng xịt

3.5. Thiết kế thí nghiệm và kết quả

3.6. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của nhũ tương

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận. KẾT LUẬN

Đề xuất. ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về bào chế thuốc xịt mũi từ dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum

Bào chế thuốc xịt mũi từ dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum là hướng đi mới đầy triển vọng trong điều trị viêm mũi dị ứngviêm xoang. Cỏ ngũ sắc (Ageratum conyzoides L.) là loài dược liệu phổ biến, có nhiều hoạt chất sinh học như flavonoid, terpenoids có tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn hiệu quả. Nhu cầu phát triển dạng thuốc nhỏ mũi dạng xịt thảo dược nhằm thay thế thuốc tân dược giúp giảm tác dụng phụ và tăng sự tiện lợi cho người dùng được đặt ra. Thuốc xịt mũi hiệu quả cần đảm bảo đặc tính lý hóa phù hợp với niêm mạc mũi, ổn định, và độ an toàn cao. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh được tính ổn định, hiệu quả sinh học tốt của dịch chiết cỏ ngũ sắc khi sử dụng dưới dạng nhũ tương, giúp tối ưu hấp thu và tác dụng điều trị. Tài liệu hướng đến xây dựng công thức bào chế và tối ưu quy trình tạo nhũ tương thuốc xịt mũi từ dịch chiết cỏ ngũ sắc nhằm mang lại hiệu quả điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.

1.1. Tổng quan về dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum và thành phần hoạt chất

Cỏ ngũ sắc Ageratum conyzoides L. là cây dược liệu nhiệt đới phân bố rộng tại Việt Nam, chứa nhiều hợp chất như flavonoid, alkaloid, terpenoidschromene. Các thành phần hoạt chất cỏ ngũ sắc này góp phần quan trọng trong công dụng chống viêm, chống khuẩn và hỗ trợ điều trị các bệnh hô hấp, đặc biệt là viêm mũi dị ứngviêm xoang. Phương pháp chiết xuất bằng ethanol 70% thể hiện hiệu quả thu hồi cao các hoạt chất có lợi, ổn định và dễ pha chế thành dạng nhũ tương dùng trong bào chế thuốc xịt mũi thảo dược.

1.2. Vai trò của thuốc xịt mũi từ dịch chiết cỏ ngũ sắc trong điều trị viêm mũi dị ứng

Viêm mũi dị ứng là bệnh lý phổ biến, thường xuyên tái phát, gây khó chịu và làm giảm chất lượng cuộc sống. Thuốc xịt mũi là dạng bào chế ưu tiên cung cấp trực tiếp hoạt chất lên niêm mạc mũi, giúp tác dụng nhanh và hiệu quả cao. Dùng thuốc xịt mũi thảo dược từ dịch chiết cỏ ngũ sắc vừa phát huy tác dụng chữa viêm nhiễm, vừa hạn chế tác dụng phụ so với thuốc tân dược. Các thử nghiệm cho thấy dạng nhũ tương thuốc xịt mũi từ dịch chiết này có thể kiểm soát tốt triệu chứng, an toàn trên niêm mạc và tiện lợi khi sử dụng lâu dài.

II. Khó khăn và thách thức khi bào chế thuốc xịt mũi từ dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum

Việc phát triển thuốc xịt mũi từ dịch chiết cỏ ngũ sắc đối mặt với nhiều thách thức về kỹ thuật và ổn định dược chất. Đặc tính vật lý hóa của dịch chiết có nhiều thành phần phức tạp khiến việc duy trì ổn định, tránh tách pha và bảo toàn hoạt tính gặp khó khăn. Đồng thời, niêm mạc mũi rất nhạy cảm với các tác nhân gây kích ứng, do đó lựa chọn chất diện hoạt và dung môi phù hợp là rất quan trọng để giảm thiểu tác dụng phụ. Ngoài ra, nồng độ thuốc, pH, áp suất thẩm thấu và tính tương hợp với niêm mạc mũi cũng là những yếu tố thách thức trong thiết kế công thức. Việc bảo quản thuốc xịt mũi dạng nhũ tương từ thảo dược cũng đòi hỏi điều kiện nghiêm ngặt để duy trì hiệu quả lâu dài.

2.2. Các thách thức về an toàn và kích ứng niêm mạc khi dùng dịch chiết cỏ ngũ sắc

Niêm mạc mũi có cấu trúc mỏng, dễ bị tổn thương bởi các thành phần thuốc không phù hợp. Một số chất diện hoạt có thể gây độc tính hay kích ứng mô niêm mạc nếu sử dụng nồng độ cao. Đặc biệt, thành phần thảo dược có thể chứa các hoạt chất có tính kích thích mạnh nếu chưa được xử lý đúng cách. Do đó, việc lựa chọn loại chất hoạt động bề mặt ít kích ứng, phối hợp nồng độ an toàn là quan trọng trong công thức. Thêm vào đó, việc kiểm tra độ pH chuẩn sinh lý và áp suất thẩm thấu gần với dịch sinh lý giúp giảm nguy cơ kích ứng và đảm bảo hấp thu thuốc một cách an toàn.

III. Phương pháp bào chế thuốc xịt mũi từ dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum hiệu quả

Bào chế thuốc xịt mũi dạng nhũ tương từ dịch chiết cỏ ngũ sắc áp dụng phương pháp nhũ hóa sử dụng năng lượng cao là lựa chọn tối ưu nhằm tạo kích thước giọt nhỏ, ổn định và đồng nhất. Quy trình gồm chuẩn bị pha dầu (dầu dừa tinh khiết, Span 80), pha nước (dịch chiết cỏ ngũ sắc, Tween 80, propylenglycol, NaCl 0,9%), kết hợp hai pha và đồng nhất bằng thiết bị phân cắt tốc độ cao ở nhiệt độ khoảng 65-70°C. Sau đó thực hiện điều chỉnh pH, bổ sung chất bảo quản và lọc sản phẩm cuối cùng qua màng cellulose acetat 0,2 µm để đảm bảo độ tinh sạch. Phương pháp này mang lại nhũ tương có kích thước hạt nhỏ (trung bình ~100-300 nm), độ nhớt phù hợp và khả năng ổn định cao, đáp ứng yêu cầu về độ ổn định và chất lượng của thuốc xịt mũi thảo dược.

3.3. Phương pháp kiểm soát chất lượng đảm bảo tính ổn định của thuốc xịt mũi cỏ ngũ sắc

Sử dụng thiết bị đo kích thước hạt (Zetasizer), đánh giá phân bố kích thước và PDI để đảm bảo nhũ tương có độ đồng nhất cao. Thử nghiệm pH, độ nhớt, tỷ trọng và đánh giá hình dạng xịt giúp kiểm soát tính chất vật lý sản phẩm. Độ đồng đều khối lượng liều được đánh giá theo tiêu chuẩn USP 36 nhằm đảm bảo liều dùng chính xác. Độ ổn định vật lý được kiểm tra bằng quan sát tách pha, hiện tượng kết tụ sau lưu trữ 45-60 ngày, thử nghiệm luộc sôi 60 phút với kết quả ổn định mức 4 chứng tỏ công thức đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo quản tốt.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu thuốc xịt mũi dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum

Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh thuốc xịt mũi bào chế từ dịch chiết cỏ ngũ sắc tồn tại ổn định về mặt vật lý và hóa học sau thời gian bảo quản dài. Công thức lựa chọn chứa dầu dừa, Tween 80, Span 80 và propylenglycol mang lại sản phẩm có đặc tính ưu việt, không gây kích ứng niêm mạc mũi. Kích thước giọt nhũ tương nhỏ và phân bố đồng đều (PDI <0.5) giúp tăng khả năng hấp thu dược chất tại niêm mạc mũi. Thuốc xịt mũi sử dụng hiệu quả trong các đợt điều trị viêm mũi dị ứng, viêm xoang dị ứng do tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn từ các hoạt chất sinh học trong cỏ ngũ sắc. Ứng dụng của dạng thuốc này góp phần tối ưu hóa phương pháp điều trị truyền thống, nâng cao sự tiện dụng và an toàn cho người bệnh.

4.2. Hiệu quả điều trị viêm mũi dị ứng và ứng dụng trong thực tế lâm sàng

Các thành phần hoạt chất từ dịch chiết cỏ ngũ sắc với tác dụng kháng viêm và giảm phù nề giúp kiểm soát các triệu chứng viêm mũi dị ứng nhanh và rõ rệt. Việc sử dụng thuốc xịt mũi thảo dược giúp hạn chế tác dụng phụ của thuốc tân dược, đặc biệt khi sử dụng lâu dài. Thuốc được thiết kế thuận tiện, dễ sử dụng, tăng cường tuân thủ điều trị trên bệnh nhân. Nghiên cứu tiền lâm sàng và thực tế lâm sàng ban đầu cho thấy tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe tai mũi họng dựa trên nền tảng dược liệu tự nhiên an toàn.

V. Kết luận và triển vọng phát triển thuốc xịt mũi từ dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum trong tương lai

Qua nghiên cứu và thử nghiệm, đã xây dựng thành công công thức bào chế thuốc xịt mũi dạng nhũ tương từ dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum với các thành phần gồm dầu dừa, Tween 80, Span 80, propylenglycol và các chất bảo quản thích hợp. Sản phẩm đạt được tính ổn định vật lý, phân bố kích thước đồng nhất, pH sinh lý phù hợp và cải thiện khả năng hấp thu dược chất qua niêm mạc mũi. Thuốc xịt mũi có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, được kỳ vọng trở thành giải pháp điều trị an toàn thay thế thuốc tân dược trong các bệnh viêm mũi dị ứng và viêm xoang. Triển vọng nghiên cứu tiếp theo tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm qua công nghệ đồng nhất hóa áp suất cao, mở rộng đánh giá tác dụng sinh học và thử nghiệm lâm sàng. Việc phát triển sâu hơn hình thức bào chế như nanoemulsion hoặc gel nano sẽ mở ra nhiều cơ hội ứng dụng hiệu quả hơn trong ngành dược liệu hiện đại.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu và phát triển sản phẩm thuốc xịt mũi dược liệu trong tương lai

Khuyến nghị tiếp tục nghiên cứu bào chế thuốc nhỏ mũi bằng các công nghệ nâng cao như đồng nhất hóa áp suất cao, siêu âm nhằm tăng tính ổn định, đồng nhất kích thước tiểu phân. Điều tra ảnh hưởng các điều kiện bào chế đến hiệu quả sinh học và tính an toàn sản phẩm. Thực hiện các thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả điều trị, tác dụng phụ so với thuốc tân dược hiện hành. Phát triển các dạng bào chế tương thích như nanoemulgel, gel xịt để tăng tính tiện dụng và tăng cường hấp thu. Mở rộng ứng dụng trong chăm sóc tai mũi họng với các chế phẩm dược liệu an toàn, hiệu quả, thân thiện môi trường.

16/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh viêm mũi dị ứng và viêm xoang 1. Khái niệm bệnh viêm mũi dị ứng, viêm xoang Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là tình trạng viêm niêm mạc mũi biểu hiện các triệu chứng: Ngứa mũi; hắt hơi; chảy mũi và ngạt mũi bởi phản ứng viêm qua trung gian IgE do tiếp xúc dị nguyên đường hô hấp, các triệu chứng có thể tự khỏi hoặc do điều trị. Thường kèm theo viêm kết mạc dị ứng (với đặc trưng là ngứa, chảy nước mắt, đỏ mắt, thậm chí sưng nề mắt) [4]. Viêm xoang cấp là bệnh thường gặp nhất, có người cho là 1/2 dân số đã từng bị viêm xoang cấp 1 lần.

Bệnh có thể gặp từ trẻ nhỏ vài tháng tuổi đến người già, rất thường gặp ỏ lứa tuổi học tập, lao động do phải tiếp xúc thường xuyên với môi trường ô nhiễm trong sinh hoạt đặc biệt ở các nhà máy, hầm mỏ, ở những người bị viêm mũi, có cơ địa dị ứng hút thuốc lá, cơ thể suy nhược gặp với tỷ lệ cao hơn. Viêm xoang cấp thường gặp viêm một xoang trong đó xoang hàm hay gặp nhất, ở trẻ em nhỏ dưới 3 - 4 tuổi xoang sàng lại dễ gặp hơn; cũng hay gặp viêm cả khối xoang trước; hàm - sàng trán , trong các trường hợp do nhiễm vi khuẩn hay virút. Việc chẩn đoán viêm xoang cấp không khó, nên lưu ý có hiểu biết có thế tự chẩn đoán dựa trên các dấu hiệu lâm sàng khá điển hình như sốt: khi bị viêm xoang cấp bao giờ cũng có sốt nhưng mức độ khác nhau tuỳ từng người. Với trẻ em sốt thường rõ rệt, sốt cao: 38 - 39°C, trong vài ngày, ở người lớn khỏe mạnh, chỉ sốt nhẹ, thoáng qua, có hiện tượng ngây ngấy sốt, gai rét, người mệt mỏi.

Đau, nhức vùng mặt là dấu hiệu chính, đau thành từng cơn, rõ rệt về sáng, vùng mặt tương ứng với xoang bị viêm. Nếu viêm xoang hàm ấn ngón tay vùng má bên cạnh rãnh mũi thấy đau rõ rệt. Nếu ở vùng gốc mũi là viêm xoang sàng. Với xoang trán ấn vùng trên lông mày phía trong hốc mắt.

Chảy mũi mủ luôn gây khó chịu, vì chảy nhiều, liên tục trong ngày. Nếu chảy mũi nhầy, đặc, dính thường do virus. Nếu do virus sẽ chảy mủ đặc, có màu vàng hay nâu bẩn, đục, có mùi hôi tanh khó chịu. Nếu xì mũi mạnh có thể chảy mủ lẫn dây máu.

Ngạt tắc mũi là triệu chứng không thể thiếu, tuỳ theo bên viêm, mức độ viêm gây ngạt hay tắc mũi một hay cả hai bên. Nếu ngạt tắc mũi cả hai bên sẽ gây mất chức năng ngửi, ngửi mũi không rõ, tiếng nói không rõ, không vang. Do ngạt tắc mũi hai bên phải há mồm thở bù về đêm, nếu trời lạnh gây đau, rát họng, trẻ em đưa tối ho, kém ngủ, kém ăn [38].Các vị trí viêm xoang thường gặp [38] 1. Một số phương thức điều trị bệnh viêm mũi dị ứng và viêm xoang hiện nay Trong nhiều trường hợp viêm xoang cấp được nghỉ ngơi, điểu trị đúng sẽ khỏi nhanh, không để lại ảnh hưởng gì.

Tuy có thể điểu trị khỏi được nhưng cần lưu ý viêm xoang cấp dễ đưa tới viêm xoang mạn phức tạp hơn và có các biến chứng. Hướng xử trí: cơ bản thực hiện các nguyên tắc sau: Nghỉ ngơi, giảm các hoạt động mạnh, căng thẳng, tránh các yếu tố kích thích như bụi, nóng, ẩm, môi trường ô nhiễm dễ lây - nhiễm khuẩn. Đảm bảo mũi thở thông: không bị dịch nhầy, mủ ứ đọng trong hốc mũi. Nếu hốc mũi có nhiều mủ cần nhỏ rửa lần đầu để thở được thông, sau vài phút xì mũi sạch, rồi nhỏ thuốc để sát khuẩn và giữ mũi được thông thoáng lâu.

Với trẻ nhỏ (dưới 3 tuổi) chưa biết cách xì mũi sau khi nhỏ mũi lần đầu cho thông thoáng, nên nhỏ dung dịch muối sinh lý (NaCl 0,9 %) hay xịt nước biển (sinh lý) để trôi hết các ứ đọng trong hốc mũi rồi nhỏ mũi tiếp sau vài phút. Nếu được thực hiện hút sạch mũi; bằng bóng cao su tự hút mũi, hoặc do thầy thuôc thực hiện sẽ rất có tác dụng. Lưu ý: nếu chỉ nhỏ mũi một lần sẽ rất ít tác dụng, nếu xì mũi, hút mũi khi mũi chưa thông sẽ gây hại vì dịch mủ ở mũi có thể bị đẩy ngược vào xoang, gây chảy máu mũi. Nếu được thực hiện: khí dung mũi - xoang hay xông hơi mũi xoang sẽ có tác dụng rất tốt.

12 Sử dụng huốc toàn thân: chỉ thực hiện khi tình trạng phẫu thuật rõ (sốt cao, đau nhức, chảy mủ đặc hôi .) hoặc khi đã ảnh hưởng đến phổi. Các thuốc thường dùng: kháng sinh, kháng viêm: giảm phù nề, và vitamin C. Tổng quan cây cỏ ngũ sắc 1. Đặc điểm thực vật Cây có ngũ sắc còn có tên gọi là cây cỏ hôi, tiêu viêm thảo, cây hoa ngũ vị, cây bù xít, thắng hồng kế, cỏ thúi địch, hoa ngũ sắc Tên khoa học: Ageratum conyzoides L.

Họ: Asteraceae Phân họ: Asteales Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân bố: Cỏ ngũ sắc là loài cỏ nhiệt đới nên chúng phân bố ở vùng Tây Phi, Châu Á và Nam Mỹ. Ở Việt Nam, phân bố rộng khắp các vùng miền [1]. Đặc điểm: Cỏ nhất niên, thẳng mềm, có lông đa bào mềm, nhiều hay ít phân nhánh, có mùi thơm, cao khoảng 30-60 cm, mang một cụm hoa ở ngọn. Lá đơn, mọc cách trên thân, hình bầu dục, cuống lá dài khoảng 1-3 cm, phiến lá mềm như nhung, bao phủ bởi một lớp lông mịn trên cả 2 mặt, lá khía răng cưa đều, đáy tròn, đỉnh nhọn, gân lá rõ.

Hoa hợp thành nhóm 8 đến 15 bông đầu, đường kính khoảng 3-4 mm, họp lại như bó hoa ở chót thân, hoa đầu màu hơi tím, tổng bao gồm 3 hàng lá bắc thuôn, dài, nhọn, 3 gân rõ rệt, không đĩa, cuống hoa ngắn 0,5-2cm, vành hoa hình ống cao, lúc đầu có màu xanh hơi tím sau đó mầu trắng. Quả bế không lông, mang ở đầu 5 vảy thon nhọn, màu trắng, kem, khoảng 2 mm dài, bìa có răng đen khi trưởng thành. Nhân giống bằng hạt, phát tán nhờ gió và nước, hạt có thể này mầm liền sau khi phát tán. Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất [9] Hình 1.

Phần trên mặt đất của cây cỏ ngũ sắc Ageratum conyzoides L. Thành phần hoá học trong cỏ ngũ sắc Một loạt các hợp chất hóa học bao gồm alkaloid, coumarin, chromene, flavonoid, terpines, sesquiterpenes, benzofurones, sterol và terpenoids được tìm thấy có trong loài này [1] [3]. Thành phần chính được công bố đều liên quan tới thành phần có trong tinh dầu của cây cỏ ngũ sắc. Hàm lượng dầu thay đổi ngẫu nhiên từ 0,11 đến 0,58% đối với lá và từ 0,03 - 0,18% đối với rễ tùy thời điểm trong năm.

Từ quá trình chưng cất nước của hoa tươi, hàm lượng dầu được tìm thấy là 0,2%. Sản lượng dầu từ chiết xuất ete dầu mỏ của hạt là 26%. Một số nghiên cứu ứng dụng bào chế các dạng thuốc từ dịch chiết cỏ ngũ sắc Năm 2014, Rajmani prajapati và cộng sự đã phát triển các công thức bào chế dạng nhũ tương từ dịch chiết cỏ ngũ sắc đồng thời nghiên cứu độ ổn định, tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết và các công thức bào chế nhũ tương từ các dịch chiết đó. Các thành phần công thức được phát triển với Tween 80, Span 80, Nonyl phenol ethoxylate, Methyl oleate , dầu đậu tương đều cho thấy sự ổn định, các thành phần hoá học cũng như sự ổn định của các thành phần trong công thức thuốc đều được giữ nguyên và phát huy tác dụng kháng khuẩn tốt đối với Escherichia coli, Staphylococcus aureusn và Candida albicans [26] Năm 2019, Mia Permawati và cộng sự đã nghiên cứu bào chế dạng thuốc nanoemulgel từ dược liệu cỏ ngũ sắc Ageratum conyzoides L.

và cỏ lưỡi rắn Oldenlandia corymbosa L. và tiến hành đánh giá tác dụng kháng viêm trên chuột. Nanoemulgel với các thành phần là dịch chiết cỏ ngũ sắc và cỏ lưỡi rắn được hoà tan trong ethanol 96% (5% v/v) và propylenglycol (10%; v/v) bằng phương pháp siêu âm; các thành phần tá dược khác bao gồm PEG 400, Tween 80, dầu dừa tinh khiết (virgin coconut), các chất bảo quản được thêm vào bao gồm propyl paraben, methyl paraben, butylateted, hydroxytoluene, nước cất. Một số đặc tính của nanogel được xác định như kích thước hạt, chỉ số PDI, thế zeta, , pH, độ nhớt.

Các đặc tính được đánh giá của dạng thuốc nanoemulgel cho thấy cấu trúc hình thành ổn định, việc sử dụng ethanol, propylenglycol làm tăng độ tan của các thành phần có tác dụng dược lý trong dịch chiết và làm tăng thấm các thành phần qua da. Tween và PEG là chất diện hoạt và đồng diện hoạt rất thích hợp để dùng đối với các công thức thuốc có chứa thành phần hoạt chất là quervetin. [22] Cũng năm 2019, Sirikunya sayompark và cộng sự phát triển thuốc dạng gel có chứa dịch chiết cỏ ngũ sắc Ageratum conyzoides (L. Bột cỏ ngũ sắc được ngâm trong ethanol 95%.

Duy trì ở tỉ lệ 1:5 (kl/tt) trong 5 ngày. Hỗn dịch được khuấy vài lần mỗi ngày và lọc. Phần cặn được ngâm thêm với cùng một thể tích dung môi hai lần. Các dịch chiết dung môi kết hợp được cô đặc dưới áp suất giảm thông qua thiết bị cô quay ở 40°C để thu được dịch chiết thô và được làm khô đến không đổi trọng lượng trong bình hút ẩm.

Dịch chiết thô đã được lưu trữ trong tủ đông sâu ở -20°C cho đến khi được yêu cầu. Sau đó dịch chiết được 14 hoà tan lại bằng hỗn hợp propylenglycol, glycerin và ethanol 95%, thành phần tạo gel Carbopol 934, triethanolamin, thành phần khác phenoxyethanol và nước cất để tạo chế phẩm gel. Một số đặc tính gel cũng đã được đánh giá như màu sắc: gel có màu xanh lá, trong suốt, pH nằm trong khoảng từ 5-7, độ nhớt nằm trong khoảng từ 700 – 800 cps. [33] Tại Việt Nam, năm 2017, PGS.

TS Nguyễn Đức Vượng (Đại học Quảng Bình) đã có sự chia sẻ trên tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ Quảng Bình số 1/2017 về việc điều chế dung dịch xịt chữa viêm xoang từ cỏ ngũ sắc. Tinh dầu được chiết xuất đơn giản bằng phương pháp ngưng tụ sau đó được pha lại trong nước muối sinh lý NaCl 0,9% và tinh dầu tỏi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ