CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT 1. Tổng quan về báo cáo tài chính hợp nhất 1. Khái niệm báo cáo tài chính và báo cáo tài chính hợp nhất 1. Báo cáo tài chính Khái niệm Theo Luật kế toán 03/2003/QH11[14] ngày 17/6/2003 định nghĩa: “Báo cáo tài chính được lập theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán”.
Theo Chuẩn mực kế toán (CMKT) số 01 - Chuẩn mực chung (VAS 01, 2002) [5] định nghĩa: “Báo cáo tài chính phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh”. Tóm lại theo tác giả, BCTC là các báo cáo kế toán cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu cho những người sử dụng chúng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế.
Mục đích của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở Luan van 8 hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; Các luồng tiền. Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền.
Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm: - Bảng cân đối kế toán; - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; - Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính hợp nhất Khái niệm Báo cáo tài chính hợp nhất (BCTC hợp nhất) được đưa ra với các định nghĩa khác nhau, cụ thể như sau: Theo CMKT quốc tế số 27 (IAS 27,2008) [12]: “BCTC hợp nhất là BCTC của một nhóm được trình bày như một thực thể kinh tế duy nhất”. Theo chuẩn mực lập BCTC quốc tế số 10 (IFRS 10, 2013) [18]: “BCTC hợp nhất là các BCTC của một nhóm mà trong đó tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí và các dòng tiền của công ty mẹ và các công ty con của nó được trình bày như một thực thể kinh tế duy nhất”. Theo CMKT Việt Nam số 25 (VAS 25, 2003) [5]- Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con, định nghĩa: “Báo cáo tài chính hợp nhất là báo cáo tài chính của một tập đoàn được trình bày như báo cáo tài chính của một doanh nghiệp.
Báo cáo này được lập trên cơ sở hợp nhất báo cáo của công ty mẹ và các công ty con theo quy định của chuẩn mực này”. Tóm lại, đứng trên quan điểm của tác giả có 02 đặc điểm mấu chốt mà các quan điểm về BCTC hợp nhất đều đề cập đến đó là: (i) BCTC hợp nhất là báo cáo của một nhóm công ty trong đó bao gồm công ty mẹ và các công ty con được trình bày như một thực thể duy nhất. (ii) Phải thể hiện thông tin về tình hình tài chính của cả nhóm công ty đó. Luan van 9 Mục đích của việc lập BCTC hợp nhất BCTC hợp nhất được lập căn cứ trên BCTC riêng của công ty mẹ và các công ty con, do đó mục đích của việc lập BCTC hợp nhất hiển thị rõ ràng các thông tin tài chính cần thiết cho các bên quan tâm.
Cụ thể: - Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ trong kỳ kế toán của tập đoàn như một doanh nghiệp độc lập không tính đến ranh giới pháp lý của các pháp nhân riêng biệt là công ty mẹ và công ty con trong tập đoàn. - Cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho việc đánh giá tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và khả năng tạo tiền của tập đoàn trong kỳ kế toán đã qua và dự toán trong tương lai, làm cơ sở cho việc ra quyết định về quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư vào tập đoàn của các chủ sở hữu, nhà đầu tư, chủ nợ hiện tại và tương lai và các đối tượng khác sử dụng báo cáo tài chính. Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm: Báo cáo tài chính hợp nhất gồm báo cáo tài chính hợp nhất năm và báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ (báo cáo quý, gồm cả quý IV và báo cáo bán niên). BCTC hợp nhất năm được lập dưới dạng đầy đủ, BCTC hợp nhất giữa niên độ được lập dưới dạng đầy đủ hoặc dạng tóm lược.
BCTC hợp nhất năm và BCTC hợp nhất giữa niên độ gồm: - Bảng cân đối kế toán hợp nhất (BCĐKT hợp nhất); - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất (BCKQHĐKD hợp nhất); - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất (BCLCTT hợp nhất); - Bản thuyết minh Báo cáo tài chính hợp nhất (BTMBC hợp nhất). Các khái niệm liên quan đến báo cáo tài chính hợp nhất 1. Kiểm soát Theo VAS 25[5] – “Kiểm soát: Là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của doanh nghiệp đó”. Luan van 10 Quyền kiểm soát được thiết lập khi công ty mẹ nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con khác trên 50% quyền biểu quyết ở công ty con trừ những trường hợp đặc biệt khi có thể chứng minh được rằng việc nắm giữ nói trên không gắn liền với quyền kiểm soát.
Xác định quyền biểu quyết: Công ty mẹ có thể nắm giữ trực tiếp quyền biểu quyết ở công ty con thông qua số vốn công ty mẹ đầu tư trực tiếp vào công ty con và công ty mẹ có thể nắm giữ gián tiếp quyền biểu quyết tại một công ty con thông qua một công ty con khác trong tập đoàn. Công ty mẹ, công ty con Theo VAS 25[5] – “Công ty mẹ: Là công ty có một hoặc nhiều công ty con”. Công ty con cấp 1 là công ty con bị công ty mẹ kiểm soát trực tiếp thông qua quyền biểu quyết trực tiếp của công ty mẹ. Công ty con cấp 2 là công ty con bị công ty mẹ kiểm soát gián tiếp thông qua các công ty con khác.
Tập đoàn đa cấp là tập đoàn gồm công ty mẹ, các công ty con cấp 1 và công ty con cấp 2. Một công ty được coi là công ty mẹ của một công ty khác nếu có quyền kiểm soát thông qua việc chi phối các chính sách tài chính và hoạt động nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của công ty này mà không chỉ xét tới hình thức pháp lý, hay tên gọi của công ty đó. Công ty mẹ có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động trong các trường hợp sau đây: - Nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết trực tiếp hoặc gián tiếp ở Công ty con. Trường hợp có sự khác biệt giữa tỷ lệ quyền biểu quyết theo giấy đăng ký kinh doanh và tỷ lệ quyền biểu quyết tính trên cơ sở vốn thực góp thì quyền biểu quyết được xác định theo điều lệ doanh nghiệp hoặc theo sự thống nhất giữa các bên; - Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm hoặc bãi miễn đa số các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty con; - Có quyền bỏ đa số phiếu tại các cuộc họp của Hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương; Luan van 11 - Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty con; - Các nhà đầu tư khác thỏa thuận dành cho công ty mẹ hơn 50% quyền biểu quyết; - Có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động theo quy chế thoả thuận.
Khi xác định quyền kiểm soát của công ty mẹ, ngoài các quy định trên, doanh nghiệp phải xem xét quyền biểu quyết tiềm năng phát sinh từ các quyền chọn mua hoặc các công cụ nợ và công cụ vốn có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông tại thời điểm hiện tại. Cổ đông không kiểm soát Theo VAS 25[5] – “Cổ đông không kiểm soát: Là cổ đông không có quyền kiểm soát công ty con (trước đây gọi là cổ đông thiểu số)”. Lợi ích công ty mẹ và cổ đông không kiểm soát nắm giữ tại công ty con bao gồm lợi ích trực tiếp và gián tiếp có được thông qua công ty con khác. Việc xác định lợi ích của các bên được căn cứ vào tỷ lệ vốn góp (trực tiếp và gián tiếp) tương ứng của từng bên trong công ty con, trừ khi có thoả thuận khác.
Trường hợp có sự khác biệt giữa tỷ lệ vốn góp theo giấy đăng ký kinh doanh và tỷ lệ vốn thực góp thì tỷ lệ lợi ích được xác định theo điều lệ doanh nghiệp hoặc theo sự thống nhất giữa các bên. - Xác định tỷ lệ lợi ích trực tiếp: Công ty mẹ có lợi ích trực tiếp trong công ty con nếu công ty mẹ sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản thuần của công ty con. Nếu công ty con không bị sở hữu toàn bộ bởi công ty mẹ thì các cổ đông không kiểm soát của công ty con cũng có lợi ích trực tiếp trong công ty con. Lợi ích trực tiếp được xác định trên cơ sở tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư trong giá trị tài sản thuần của bên nhận đầu tư.