mở đầu 1 cho cuộc đấu tranh giành sự bình đẳng với nam giới của nữ giới Việt. Bằng thực hành tín ngưỡng, người phụ nữ muốn tìm kiếm sự che chở, dung dưỡng, tìm sự cân bằng về vị trí và quyền lực của mình trong gia đình và ngoài xã hội dù chỉ trên phương diện tinh thần [92; tr707]. Ngoài ra, các nghiên cứu khác như nghiên cứu của Nguyễn Kim Hoa còn phân tích những biểu hiện giới, bản sắc giới của những người lên đồng; nghiên cứu Barley Norton chỉ ra rằng cấu trúc âm nhạc trong hầu đồng không chỉ chịu ảnh hưởng của tộc người mà còn chịu ảnh hưởng bởi giới. Khi được thần thánh nhập vào, người hầu đồng “xuyên qua giới”- khi người hầu đồng thuộc một giới được thần thánh thuộc một giới khác nhập vào, người này tiếp nhận những đặc điểm về giới và cách ứng xử của vị khách đó.
Tác giả kết luận: thông qua việc tạo nên nhận dạng của thần thánh, âm nhạc trong lên đồng có thể được hiểu như là tính biến đổi, các bài chầu văn giúp cho người hầu đồng băng qua thế giới con người và thần linh, xuyên qua ranh giới của giới và tộc người [11; tr331] Những nghiên cứu từ góc độ triết học Có một số công trình nghiên cứu Đạo Mẫu từ góc độ triết học như: Minh Triết trong Đạo Mẫu ở Việt Nam của Lê Thị Chiêng [18], Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ của Nguyễn Hữu Thụ [115]…Với cách tiếp cận này, các tác giả đã làm rõ và sâu sắc hơn giá trị về mặt tư tưởng triết học của loại hình tín ngưỡng này. Cụ thể, theo các tác giả, mặc dù chỉ dừng lại là một loại hình tín ngưỡng dân gian, nhưng tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đã phản ánh vào trong nội dung, nghi lễ và không gian thờ cúng những sự giải thích của mình (dù là trực quan cảm tính) về tự nhiên, xã hội và con người. Với sự đồng nhất tự nhiên là Mẹ/Mẫu, người Việt đã kéo tự nhiên lại gần hơn với cuộc sống của mình, đồng thời mối quan hệ Mẹ (tự nhiên) – Con (con người) đã nói lên thái độ cũng như mong muốn của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trong mối quan hệ với tự nhiên. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ cũng phản ánh phần nào mối quan hệ giữa con người với xã hội thông qua những mong muốn, khát vọng giải phóng con người (trước hết là giải phóng phụ nữ) khỏi những ràng buộc và chế ngự của các thể chế xã hội, đặc biệt là xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XVI –XVII [115; tr 104] Ngoài những tiếp cận từ các góc độ cụ thể trên, Đạo Mẫu còn được tiếp cận từ các góc độ khác như nhân học (Oscar Salemink) [89] hoặc tiếp cận liên ngành (Nguyễn Ngọc Mai) [78] … Có thể nói, những công trình nghiên cứu với các hướng 1 tiếp cận của các tác giả kể trên là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá.
Mặc dù chúng không liên quan trực tiếp đến hướng nghiên cứu của tôi, nhưng tôi hết sức trân trọng những công trình nghiên cứu đó. Bởi, chính những công trình đó đã giúp tôi có cái nhìn thông suốt và hệ thống về Đạo mẫu, gợi mở cho tôi những khoảng trống trong nghiên cứu còn bỏ ngỏ. Cụ thể, các cách tiếp cận trên thường chỉ tập trung nghiên cứu bản thân Đạo Mẫu với các yếu tố cấu thành cũng như nguồn gốc, bản chất, đặc điểm và giá trị của nó, tác dụng của nghi lễ hầu đồng. Những công trình nghiên cứu về những người thực hành tín ngưỡng này và mối quan hệ giữa họ còn rất ít ỏi và lẻ tẻ.
Vì vậy, ở đây với cách tiếp cận nhân học văn hóa, sử dụng khung lý thuyết vốn xã hội, sử dụng các phương pháp nghiên cứu của nhân học, luận án đi vào nghiên cứu cộng đồng của những người thực hành Đạo Mẫu, cụ thể là nghiên cứu về bản hội, các thành viên bản hội và các mối quan hệ của họ trong việc tạo lập vốn xã hội.2 Những nghiên cứu về cộng đồng, cộng đồng tôn giáo và bản hội. Trong luận án này, tôi sẽ nhìn nhận bản hội Đạo Mẫu như một cộng đồng tôn giáo vì vậy, tôi sẽ bắt đầu phần tổng quan này với những phác thảo về nghiên cứu cộng đồng và cộng đồng tôn giáo để có cơ sở làm toát lên những đặc trưng khác biệt của cộng đồng tín đồ Đạo Mẫu so với các cộng đồng tôn giáo khác. Những nghiên cứu về cộng đồng Cộng đồng là một khái niệm đã và đang được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học xã hội như sử học, văn hóa học, nhân học, tâm lí học, triết học, xã hội học.Thuật ngữ này trong tiếng Anh gọi là “community”, tiếng Pháp là “communité”, tiếng Đức là “Gemeinschaft”. Vì là một khái niệm quan trọng có tính chất thao tác trong nghiên cứu của nhiều nghành khoa học xã hội nên cộng đồng được nghiên cứu rất nhiều cả về lý thuyết lẫn các nghiên cứu về các loại cộng đồng cụ thể.
Trong các nghiên cứu lý thuyết về cộng đồng, người ta thường tập trung vào các vấn đề như khái niệm, phân loại cộng đồng, đặc trưng của cộng đồng và cộng đồng khác gì so với các khái niệm gần với nó như đoàn thể, hiệp hội. Một trong những công trình nghiên cứu về cộng đồng đáng được nhắc tới nhất là “Gemeinschaft und Gesellschaft” (1887) (Cộng đồng và Hiệp hội) của một nhà xã hội học người Đức- Ferdinand Toennies. Theo tác giả này, cộng đồng là một thực thể xã hội có độ gắn kết bền vững hơn so với “hiệp hội” vì “cộng đồng” được đặc trưng bởi “sự đồng thuận về ý chí” của các thành viên. Toenies cũng nhấn mạnh vai trò của ý chí cộng đồng khi cho rằng cộng đồng được hình thành trên cơ sở của việc mỗi thành viên của cộng đồng nhận thức được rằng mình là một bộ phận của cộng đồng.
1 Từ góc độ kinh tế học, cộng đồng được xem như một loại vốn xã hội. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là các luận điểm của Robert D.Putnam được trình bày trong công trình nổi tiếng “Bowling alone: the collapse and revival of American community” (2000). Theo tác giả này, có hai yếu tố tạo nên cộng đồng với tính cách là một nguồn vốn xã hội chính là tinh thần đoàn kết và sự hình thành các mạng lưới xã hội, trong đó từng người cảm thấy yên tâm, an toàn khi họ ở trong cộng đồng, trong mạng lưới và do đó sẵn sàng đóng góp, hy sinh vì cộng đồng, bảo vệ lợi ích của cộng đồng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các nhà khoa học chính trị hiện đại lại quan tâm đến cộng đồng như một hình thức tổ chức trong quá trình chính trị, bao gồm các nhóm lợi ích đến các chính đảng, các dạng công xã cho đến nhà nước-dân tộc.
Từ nửa sau thế kỉ XX, trong giới nghiên cứu chính trị học, đặc biệt là văn hóa chính trị, xuất hiện khái niệm về loại hình “cộng đồng tưởng tượng” (imagined community). Đây chính là cơ sở để Benidict Anderson phát triển thành lý thuyết mới về cộng đồng nói chung và quốc gia dân tộc nói riêng, trong đó nhấn mạnh sự chia sẻ giữa các thành viên của cộng đồng về cách mà họ hình dung về cộng đồng nói chung và vai trò của họ với tính cách là bộ phận hợp thành của cộng đồng ấy. Những thành tựu có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất, xét cả trên mặt học thuật và phương diện thực tiễn là những kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học về cộng đồng trong đó không thể không nhắc tới nghiên cứu của D.Chavis về ý thức cộng đồng, cảm giác thuộc về cộng đồng (sense of community) công bố lần đầu tiên vào năm 1986. Theo hai ông, “ý thức cộng đồng là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức bền cố kết nội tại của cộng đồng.
Bốn yếu tố sau đây chính là cơ sở của ý thức cộng đồng: 1) tư cách thành viên; 2) ảnh hưởng; 3) sự hội nhập và sự đáp ứng các yêu cầu; 4) sự gắn bó chia sẻ tình cảm” [Dẫn theo 118; tr23] Những nghiên cứu về cộng đồng tôn giáo Cho đến nay, các học giả đã phân loại cộng đồng thành nhiều loại khác nhau. Theo Phạm Hồng Tung (2009) [122], về cơ bản người ta chia cộng đồng thành 3 loại: cộng đồng địa lý (geographic community) bao gồm các cộng đồng láng giềng như xóm, phố, làng xã, thành phố, vùng, quốc gia; cộng đồng văn hóa (community of cutural) bao gồm các loại phe phái, tiểu văn hóa, nhóm tộc người, các cộng đồng tôn giáo, cộng đồng đa văn hóa…;cộng đồng tổ chức (community of Organizations) bao gồm gia đình, dòng họ, các mạng lưới, cho tới các tổ chức chính thức, các tập đoàn kinh tế, hiệp hội nghề nghiệp…Như vậy, cộng đồng tôn giáo là một trong 1 những loại hình của cộng đồng văn hóa, loại hình cộng đồng này dựa trên cơ sở niềm tin tôn giáo. Có nhiều nghiên cứu về cộng đồng tôn giáo như cộng đồng Công giáo, Hồi giáo, Tin Lành…Người ta đã nghiên cứu nhiều khía cạnh của các cộng đồng tôn giáo này như sự ra đời, sinh hoạt nghi lễ và những yếu tố cố kết của nó…Trong số đó, gần gũi hơn cả trong nghiên cứu của chúng tôi là “Vốn xã hội của các đoàn thể tôn giáo Mỹ” của tác giả Lưu Bành (2010) [9]. Trong bài viết này tác giả khẳng định: hàng triệu triệu người dân Mỹ thuộc các loại đoàn thể tôn giáo khác nhau, bất luận là hoàn cảnh kinh tế xã hội của họ như thế nào, khi họ tham gia vào tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo thì đồng thời một mặt họ nhận được sự giúp đỡ hết sức cụ thể từ giáo hội, đặc biệt là có được cái cảm nhận về sự an toàn và sự an ủi về mặt tinh thần, một mặt khác chính hoạt động của họ làm lớn mạnh thêm vốn xã hội cho giáo hội.
Giáo hội là con đường tốt nhất thu gom nguồn vốn xã hội, là nơi hứng thú giao lưu tiếp xúc, giữ gìn quy tắc và học tập rèn luyện kĩ năng trong cuộc sống.