CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 1.1 Đặc điểm tự nhiên sông Lam 1. Vị trí địa lý và diện tích “Sông Lam” là một danh từ để chỉ dòng sông chảy qua Nghệ An, phần cuối của sông Lam hợp lưu với sông La từ Hà Tĩnh, tạo thành hạ lưu sông và là ranh giới của Nghệ An và Hà Tĩnh, đổ ra biển tại cửa Hội.
Trên lãnh thổ Việt Nam, Sông Lam chảy qua địa phận huyện Kì Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, giữa các huyện Thanh Chương, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, Nghi Lộc của tỉnh Nghệ An rồi vào và Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của tỉnh Hà Tĩnh trước khi đổ ra biển. Tổng cộng chiều dài của sông theo Bách khoa toàn thư Việt Nam là khoảng 513 km, đoạn chảy trong nội địa Việt Nam khoảng 361 km. Diện tích lưu vực của sông Lam là 27.200 km², trong số đó 17.730 km² nằm trên lãnh thổ Việt Nam [19] Hình 1. Sông Lam, Nghệ An (Đường màu tím than) 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm địa hình Do Nghệ An một mặt là biển và một mặt là núi nên độ dốc của sông Lam là khá lớn, tính trung bình của cả triền sông thì sông Lam nằm ở cao độ 294 m và độ dốc trung bình là 18,3%, khi gần tới biển chảy ngược lên hướng Bắc. Đặc điểm thủy văn Là một con sông lớn của Việt Nam, sông Lam có một hệ thống chi lưu sông ngòi, kênh hồ khá lớn với mật độ sông suối là 0,60 km/km². Từ biên giới Việt-Lào đến Cửa Rào, lòng sông dốc nhiều với hơn 100 ghềnh thác. Từ Cửa Rào trở về xuôi, tàu thuyền nhỏ có thể đi lại được trên sông vào mùa nước.
Tổng lượng nước 21,90 km³ tương ứng với lưu lượng trung bình năm 688 m³/s và môđun dòng chảy năm 25,3 l/s. Lưu lượng trung bình mỗi năm tại Cửa Rào là 236 m³/s, tại Dừa: 430 m³/s. Mùa lũ: xuất hiện trên các dòng chảy chính từ tháng 7-11 nhưng chiếm tới 73,5% lượng dòng chảy hàng năm. Trên dòng chính 3 tháng (8-11) có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm tới 55,4% lượng dòng chảy năm.
Tháng có lượng dòng chảy lớn nhất là tháng 9 chiếm 21,8% cả năm. Đặc điểm khí hậu Khu vực sông Lam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt và có sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác.[19] + Nhiệt độ và độ ẩm không khí : Nhiệt độ không khí đã được thống kê nhiều năm và lấy giá trị trung bình tại Đài khí tượng thủy văn Bắc Trung Bộ như sau: - Nhiệt độ trung bình 24°C - Nhiệt độ cao tuyệt đối 42.1°C - Nhiệt độ thấp tuyệt đối 4°C - Độ ẩm trung bình 85-90%. Độ ẩm không khí cũng có sự chênh lệch giữa các vùng và theo mùa. Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18 - 19%.
Số giờ nắng trung bình 1. Năng lượng bức xạ dồi dào, trung bình 12 tỷ Kcal/ha năm, lượng mưa trung bình hàng năm 2.000mm thích hợp cho các loại cây trồng phát triển. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Chế độ mưa: - Nghệ An là tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh khác ở cả 3 miền. Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.000 mm/năm với 123 - 152 ngày mưa, phân bổ cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông và chia làm hai mùa rõ rệt: - Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1, 2; lượng mưa chỉ đạt 7 - 60 mm/tháng.
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có lượng mưa từ 220 - 540mm/tháng. - Số ngày mưa 15 - 19 ngày/tháng, mùa này thường kèm theo giông bão. + Gió : Khu vực hạ lưu sông Lam chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam. - Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống 5 – 100C so với nhiệt độ trung bình năm.
- Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ. Loại gió này thường xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, số ngày khô nóng trung bình hằng năm là 20 - 70 ngày. Gió Tây Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh. Nhìn chung khí hậu trong vùng khá thuận lợi cho phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp và dịch vụ du lịch.
Tuy nhiên, vào tháng 7 đến tháng 9 thường hay có bão kèm theo mưa lớn và gây ngập úng, lụt làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và môi trường. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực sông Lam Hiện nay, sông Lam đang và bắt đầu chịu sự ảnh hưởng mạnh dần lên của các hoạt động kinh tế - xã hội và đặc biệt là các khu công nghiệp, khu khai thác chế biến và các điểm dân cư… Sự ra đời và hoạt động của hàng loạt các khu công nghiệp thuộc các huyện, thành phố, các hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề, các xí nghiệp kinh tế quốc phòng cùng với các hoạt động khai thác chế biến thủy sản, khoáng sản canh tác trên hành lang thoát lũ kèm theo dự án du lịch sinh thái ven sông Lam đã làm cho môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng của sông Lam biến đổi phức tạp[8]. Sự suy giảm hệ sinh thái dưới nước khu vực sông Lam Những hậu quả do tác động của con nguời đến các hệ sinh thái bao gồm: a.
Các kỹ thuật canh tác, chăm bón, bảo vệ thực vật nhằm tăng sản lượng cây trồng. Việc tăng diện tích canh tác cũng đồng nghĩa với việc giảm đi nơi ở và tiêu diệt hàng loạt động vật hoang dã có ích và tăng lên số lượng các động vật không có ích với con người trong đó có nhiều loài có hại cho sản xuất nông nghiệp. Ngoài khai thác quá mạnh, việc giảm diện tích các đầm lầy cũng là giảm số lượng lớn các động vật đầm lầy, động vật thuỷ sinh. Các vùng đầm lầy có thể xem như nơi tích đọng các chất thải của cả khu vực.
Việc sử dụng quá mức phân đạm nhằm tăng năng suất rau màu của các vùng nông nghiệp ven sông đã tăng quá mức lượng nitrat, nitrit trong rau. Trong super lân chứa một lượng kim loại nặng, chủ yếu là Cd (Cadimi) cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng[8]. Chất thải sinh hoạt và công nghiệp Quá trình đô thị hoá nhanh các thị xã, thị tứ của các huyện sông Lam chảy qua đã làm tăng một khối lượng lớn chất thải sinh hoạt, chất thải do sản xuất công nghiệp và từ các làng nghề. Lượng chất thải với một số hợp chất độc hại cho sinh vật với nồng độ cao đã tác động mạnh mẽ một số hệ sinh thái trên quy mô bộ phận và có khả năng lan truyền rộng.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các chất thải đưa ra các thuỷ vực làm thay đổi tính chất vật lý (tăng nhiệt độ, tính dẫn điện.), hoá học của đất, nước dẫn đến thay đổi điều kiện sống, chuỗi thức ăn, khả năng sinh sản, làm giảm số lượng loài, năng suất các loài có ích so với tính đa dạng sinh học tự nhiên của sông Lam, năng suất các loài cá, các loài thuỷ sản trong sông, các thuỷ vực giảm nhanh chóng, nhiều loài dần vắng mặt. Như vậy, trong thời gian phát triển kinh tế rất ngắn đã để lại những hậu quả cho môi trường khá nghiêm trọng cho sông Lam nói chung và khu vực hạ lưu nói riêng. Ô nhiễm đất, ô nhiễm kim loại nặng tại các làng nghề tái chế kim loại và các khu công nghiệp với thiết bị lạc hậu, ô nhiễm chất hữu cơ tại các vùng chế biến thực phẩm và lan rộng ra xung quanh, ven các cụm dân cư lớn. Do lượng nước lấy từ nước ngầm quá lớn trong những năm qua, mực nước ngầm hiện tại đã hạ xuống, chất lượng nước đang dần xấu đi, một số chất có hàm lượng tăng lên rõ rệt.
Các nguy cơ tiềm ẩn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng dân số các vùng thuộc lưu vực sông Lam đã thúc đẩy việc khai thác mạnh mẽ những nguồn tài nguyên vốn có như: đất lầy, đất hoang.; loại bỏ những canh tác quảng canh cổ xưa vốn đã thích hợp thay thế bằng chuyên canh, chăn nuôi tập trung; ứng dụng hàng loạt các thành tựu khoa học như phân bón hoá học, chất kích thích, chất diệt cỏ .; gây các giống mới bằng chiếu xạ thay đổi gen, du nhập các giống cây, con mới từ các khu vực khác đến; sử dụng các hoá chất trong chế biến các loại sản phẩm. Thêm vào đấy, hàng loạt các tác nhân gây hại, các chất độc hại sinh ra từ sản xuất tiểu thủ công, công nghiệp, công nghệ hoá học, vật liệu mới, thông tin liên lạc. đều có những tác động đến các hệ sinh thái theo các mức độ, quy mô, hậu quả khác nhau. Sự biến đổi môi trường sinh thái cùng với các hoạt động kinh tế - xã hội có thể để lại những hậu quả mà chưa rõ ràng và cũng chưa biết thật chắc chắn cơ chế gây ra.
Những nguy cơ tiềm ẩn có liên quan đến thế giới sinh vật hay hệ sinh thái khu vực sông Lam có thể xảy ra bao gồm[8]: - Sử dụng quá lạm dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng, kỹ thuật biến đổi gen tạo giống mới cũng như hàng loạt chất khác 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lạ được đưa vào cơ thể sinh vật qua phát tán, ô nhiễm. sẽ gây sự biến đổi giống, loài hay cấu trúc loài của cả một hệ sinh thái theo một hướng nào đó còn chưa rõ. - Cư dân lưu vực sông Lam, chủ nhân của hệ sinh thái, tiêu thụ một lượng lớn các sinh vật trong quá trình sống, sẽ có thể mắc nhiều chứng bệnh mà không rõ nguyên nhân.