CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA 1. Cơ sở lý luận về dạy học phân hóa [15] 1.1 Thuyết đa thông minh [7] Năm 1983, tiến sĩ Howard Gardner – một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard - đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề “ Frames of Mind” (tạm dịch “ Cơ cấu của trí thông minh”) trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences). Theo Gardner, trí thông minh (Intelligences) được ông quan niệm như sau: “ là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ. Sau đây là bảy loại trí thông minh mà Gardner đã đề nghị tại thời điểm đó là: Bảng 1.
Tóm tắt thuyết đa thông minh của Howard Gardner Các loại trí thông minh Khả năng và nhận thức Thông minh về ngôn ngữ Các con chữ và ngôn ngữ Thông minh về logic - toán học, Logic và các con số Thông minh về âm nhạc Âm nhạc, âm thanh, giai điệu Thông minh về chuyển động cơ thể Kiểm soát chuyển động cơ thể Thông minh về thị giác và không gian Các hình ảnh và không gian Thông minh về tương tác Cảm xúc của những người khác Thông minh về nội tâm Tự nhận thức Vào năm 1996, Gardner có bổ sung thêm 2 loại trí thông minh mà ông và đồng nghiệp đang nghiên cứu: Trí thông minh hướng về thiên nhiên (naturalist): người có khả năng học tập thông qua hệ thống sắp xếp, phân loại, yêu thích thiên nhiên, các hoạt động ngoài trời,… Trí thông minh về sự tồn tại (existential): người có khả năng học tập thông qua việc thấy bức tranh tổng thể, thông qua những câu hỏi như “ Tại sao chúng ta tồn tại ở đây ?”, “Vai trò của tôi trong thế giới này là gì ?”, “ Vai trò của tôi trong gia đình, nhà trường và cộng đồng là gì ?” Loại trí tuệ này tìm kiếm sự kết nối giữa 16 những kiến thức mới học với các ứng dụng, các kiến thức trong thực tế. Lý thuyết của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh trên. Tuy nhiên, sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người. Bên cạnh đó, Gardner đã chỉ ra rằng trong trường học thông thường chỉ đánh giá một HS thông qua 2 loại trí thông minh là trí thông minh về ngôn ngữ và trí thông minh về logic - toán học, và điều này là không chính xác.
Trường học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp…đồng thời lèo lái tất cả mọi HS đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và phán xét. Nhiều HS đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của chúng. Thuyết đa thông minh đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và GV coi trọng sự đa dạng về trí thông minh ở mỗi HS: mỗi loại trí thông minh đều quan trọng và mỗi HS đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội.
Làm được điều đó chúng ta sẽ giúp mỗi HS tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng. Thuyết đa thông minh là cơ sở nền tảng của mô hình dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa, chúng tôi sẽ trình bày dưới đây. Dạy học phân hóa là gì? Trong lịch sử giáo dục, HS là một danh từ chung chỉ những người tiếp thu sự giáo dục của GV, không phân biệt người này với người khác: Lớp học là một tập thể HS đồng nhất, chỉ gồm những HS cùng một trình độ, cùng một độ tuổi,…cùng nhằm một mục tiêu chung. Ngày nay, PPDH tập thể hóa đó đã bị lung lay.
Hiện nay người ta lại quan tâm đến cá nhân người học và việc học trên bình diện tổ chức (từ giai đoạn tiểu học đến đại học,…) cũng như trên bình diện giáo dục (lấy HS làm trung tâm, dạy học cá nhân hóa, dạy học phân hóa,…). Để tăng hiệu quả của việc dạy học, chúng ta có thể “chia” người học thành nhiều “bộ phận” khác nhau để có cách dạy học phù hợp với từng “bộ phận” – đây chính là dạy học phân hóa. Theo từ điển Tiếng Việt, phân hóa là chia ra thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau. Có nhiều tiêu chí để “chia” người học, chẳng hạn như chia 17 theo lứa tuổi, chia theo giới tính, chia theo dân tộc, chia theo địa bàn cư trú,…Ở đây, chúng tôi chỉ giới hạn trong việc chia theo năng lực và nhu cầu của người học.TSKH Nguyễn Bá Kim: “Dạy học phân hóa xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hóa, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cả mọi HS, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của cá nhân”.
Quá trình dạy học trong nhà trường hướng tới các đối tượng HS rất đa dạng, với những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng, điều kiện học tập,.Do đó, dạy học theo một chương trình giống nhau với cách thức tổ chức dạy học như nhau cho tất cả mọi đối tượng HS là không phù hợp với yêu cầu phát triển của từng người học. Trong dạy học cần phải xuất phát từ tình hình thực tế HS, dựa vào đặc điểm phát triển tâm lý, dựa vào vốn hiểu biết của các em, dựa vào mặt mạnh, mặt yếu của các em mà tìm cách dạy thích hợp. Bởi vậy dạy học phân hóa phải tính đến trình độ phát triển khác nhau, đến đặc điểm tâm lý khác nhau của mỗi HS, làm cho mọi HS có thể phát triển phù hợp với năng lực và nhu cầu của mình. Dạy học phân hóa là phương pháp dạy học hướng đến mọi đối tượng HS ở mọi góc độ: năng lực nhận thức, hứng thú học tập, năng khiếu học tập… Dạy học phân hóa ngược lại với dạy học đồng loạt, khắc phục những nhược điểm của dạy học đồng loạt.
Dạy học phân hóa không đơn thuần là phân loại người học theo năng lực nhận thức mà ở đây là phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng người học trên cơ sở am hiểu từng cá thể, GV tiếp cận người học ở tâm lí, năng khiếu, về mơ ước trong cuộc sống…Có thể nói trong phương pháp dạy học phân hóa GV phải “tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục”. Dạy học phân hóa là cách thức dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, nhu cầu, nhận thức, các điều kiện học tập nhằm tạo ra những kết quả học tập và sự phát triển tốt nhất cho từng người học, đảm bảo công bằng trong giáo dục, tức là đảm bảo quyền bình đẳng về cơ hội học tập cho người học. Đặc điểm cơ bản của dạy học phân hóa là: - Phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập. - Biến niềm đam mê trong cuộc sống thành động lực trong học tập.
18 - Dạy học phân hóa là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của dạy học đồng loạt. Tại sao phải dạy học phân hóa? Dạy học phân hóa là cần thiết vì những lý do sau đây: - Thứ nhất: Phần lớn HS các lớp trên đã ổn định hứng thú đối với một số môn học, hoặc một dạng hoạt động nào đó. - Thứ hai: Quá trình dạy học sẽ đạt hiệu quả mong muốn nếu biết sử dụng các hứng thú của HS vào mục đích dạy học và giáo dục. - Thứ ba: Phân hoá dạy học phù hợp với HS sẽ tạo ra động lực học tập cho họ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tối đa tư chất và năng lực của HS có năng khiếu.
- Thứ tư: Chỉ có phân hoá dạy học mới có khả năng loại trừ tình trạng quá tải đối với HS. - Thứ năm: Phân hoá dạy học là điều kiện chuẩn bị nghề cho HS. Dạy học phân hóa chính là một chiến lược giúp mọi HS có thể học tích cực dựa trên năng lực của mình. Nói cách khác, việc tổ chức cho HS học phân hóa là con đường nâng cao tính hiệu quả của quá trình dạy học.
Các yếu tố có thể sử dụng trong dạy học phân hóa 1. Phân hóa theo mức độ nhận thức [7] - Thang bậc nhận thức theo Bloom gồm 6 bậc nhận thức từ thấp đến cao:nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. Đánh giá Sáng tạo Phân tích Vận dụng Hiểu Biết Hình 1. Cấu trúc cơ bản của Thang phân loại cho lĩnh vực nhận thức của Bloom Tuy nhiên đến năm 2001 Lorin Anderson và David Krathwol đã công bố việc phân tích bổ sung đảo ngược vị trí của cấp độ 5 và 6.
19 Sáng tạo Đánh giá Phân tích Vận dụng Hiểu Biết Hình 1. Các mức độ tư duy theo thang nhận thức Bloom (mới) Bảng 1. Nội dung của các mức độ nhận thức theo thang Bloom Biết Nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại Hiểu Là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả hoặc hậu quả) Vận Năng lực sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng dụng khác (sử dựng các kiến thức đó học trong hoàn cảnh mới). Vận dụng là mức độ đầu của tư duy sáng tạo.
Tức là vận dụng những gì đã học vào đời sống hoặc vào một tình huống mới. Vận dụng có thể được hiểu là khẳ năng sử dụng kiến thức đã học trong những tình huống cụ thể hay trong tình huống mới. Phân Là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành tích của thông tin hay tình huống. Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân loại.
Phân tích là khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó. Đánh Là khả năng phán xét giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích giá hợp (hỗ trợ đánh giá bằng lí do/lập luận). Đánh giá là khả năng phán xét giá trị của đối tượng. Sáng Là khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể/sự vật lớn.