CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỬ DỤNG BÀI TẬP HỮU CƠ TRONG VIỆC DẠY HỌC HOÁ HỌC 1. Cơ sở lí luận về nhận thức 1. Khái niệm nhận thức Nhận thức, tình cảm và hành động là ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người. Nó quan hệ chặt chẽ với các mặt kia và cũng quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lí khác của con người.
Nhận thức là một quá trình đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức, phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện tượng khách quan. Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia thành hai mức lớn. Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) Nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng) Nhận thức có liên quan chặt chẽ với sự học là một quá trình nhận thức.
Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) Nhận thức cảm tính là mức độ đầu sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người, là một quá trình tâm lí, nó phản ánh thuộc tính tâm lí bên ngoài của sự vật, hiện tượng thông qua sự tri giác của giác quan. Cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng. Tri giác phản ánh hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định. Cảm giác và tri giác đóng vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức, nếu như cảm giác là hình thức nhận thức đầu tiên của con người thì tri giác là điều kiện quan trọng trong sự định hướng hành vi hoạt động của con người trong môi trường xung quanh.
Nhận thức lí tính Nhận thức lí tính là mức độ cao hơn của nhận thức cảm tính. Nhận thức cảm tính có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiểu biết bản chất những mối liên hệ có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng tạo điều kiện con người là chủ thể của tự nhiên, xã hội và bản thân mình. Tưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Rèn luyện năng lực nhận thức của HS trong quá trình dạy và học hóa học Năng lực quan sát: Do hóa học là môn khoa học thực nghiệm và có thí nghiệm nên HS phải có kĩ năng quan sát. Khi quan sát GV cần hướng dẫn, yêu cầu HS làm tốt các nhiệm vụ sau: + Xác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát. + Chuẩn bị chu đáo (cả về tri thức và phương tiện) trước khi quan sát. + Tiến hành quan sát có kế hoạch và có hệ thống.
+ Khi quan sát cần tích cực sử dụng phương tiện hóa học. + Khuyến khích và tạo điều kiện cho HS sử dụng nhiều giác quan khi quan sát nhưng phải đảm bảo an toàn. Cũng như thể hiện các quan điểm cá nhân thì chưa đủ mà cần phải có tư duy. Vì không có tư duy thì không có sự tiếp thu, không có sự vận dụng tri thức, HS không học tập.
+ Cần ghi lại các kết quả quan sát, xử lý kết quả và rút ra kết luận cần thiết. Rèn luyện các thao tác tư duy có năng lực quan sát tốt, ghi nhận được chính xác sự biến đổi của sự vật, hiện tượng nhưng không biết xâu chuỗi các sự vật, hiện tượng đó với nhau và đưa ra những kết luận cần thiết cũng như thể hiện các quan điểm cá nhân thì chưa đủ mà cần phải có tư duy. Vì không có tư duy thì không có sự tiếp thu, không có sự vận dụng tri thức, HS không học tập được. Do đó phát triển tư duy đồng nghĩa với việc rèn luyện các thao tác tư duy là điều vô cùng quan trọng, cần thiết.
Các thao tác gồm: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa. Tư duy và sự phát triển tư duy trong dạy học hóa học 1. khái niệm tư duy Tư duy là một quá trình tâm lí thuộc nhận thức lí tính là một mức độ mới về chất so với cảm giác và tri giác, tư duy phản ánh những thuộc tính ở bên trong, bản chất những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng mà trước đó chưa biết, quá trình phản ánh này là quá trình gián tiếp độc lập mang tính khái quát được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ nhận thức cảm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính nhưng vượt xa những giới hạn của nhận thức cảm tính. Vậy tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh thuộc tính bản chất những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng.
Trong hiện thực khách quan mà trước đó chưa biết. Những phẩm chất của tư duy - Tính định hướng: Qua quá trình tư duy con người ý thức nhanh chóng chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích cần đạt được và con đường tối ưu đạt được mục đích đó. - Bề rộng của tư duy thể hiện ở hoạt động tư duy vận dụng kiến thức nghiên cứu vào đối tượng khác. - Độ sâu của tư duy thể hiện ở khả năng nắm vững kiến thức ngày càng sâu hơn về bản chất của sự vật hiện tượng.
- Tính linh hoạt thể hiện ở sự linh hoạt nhạy bén linh hoạt trong vận dụng kiến thức cả các hoạt động áp dụng vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo. - Tính mềm dẻo, con người có thể hoạt động tư duy theo hướng xuôi và ngược. - Tính độc lập, thông qua hoạt động tư duy con người phát hiện ra vấn đề và đề xuất hướng giải quyết. -Tính nhất quán, phản ánh tính lô gic của hoạt động nhận thức đảm bảo có sự thống nhất theo một tư tưởng chủ đạo từ đầu đến cuối không có mâu thuẫn.
- Tính phê phán, biết phân tích đánh giá các quan điểm các phương pháp lí thuyết của người khác đưa ra ý kiến chủ quan, nêu ra lí do, nội dung để bảo vệ ý kiến của mình. - Tính khái quát khi giải quyết xong mỗi loại vấn đề thường đưa ra mô hình khái quát hóa trên cơ sở giải quyết vấn đề tương tự, cùng loại. Các thao tác tư duy bao gồm + Phân tích là quá trình dùng tri óc phân tích đối tượng nhận thức thành những “bộ phận” những thuộc tính, những mối liên hệ giữa chúng để nhận thức đối tượng sâu sắc, trọn vẹn hơn. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các bộ phận, những thuộc tính, những thành phần đã được tách ra nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể.
Từ lí luận trên có thể thấy rằng phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ xung cho nhau thành một thể thống nhất không tách rời, phân tích là cơ sở của tổng hợp, tổng hợp diễn ra trên cơ sở phân tích. + So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức. Trong dạy học hóa học thường dùng hai loại so sánh là so sánh tuần tự và so sánh đối chiếu. - So sánh tuần tự là sự so sánh trong đó nghiên cứu xong từng đối tượng nhận thức rồi so sánh chúng với nhau.
- So sánh đối chiếu, nghiên cứu hai đối tượng cùng một lúc, hoặc khi nghiên cứu đối tượng thứ hai người ta phân tích thành từng bộ phận rồi đối chiếu từng bộ phận của đối tượng thứ nhất. Có thể thấy rằng so sánh có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp. + Trừu tượng hóa và khái quát hóa - Trừu tượng hóa là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết về phương diện nào đó và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy. - Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để bao quát những đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những mối liên hệ nhất định.
Những loại thuộc tính này bao gồm hai loại thuộc tính giống nhau và những thuộc tính bản chất. Qua đó để thấy rằng trừu tượng hóa và khái quát hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và bổ sung cho nhau, giống như mối liên hệ giữa phân tích và tổng hợp nhưng ở mức độ cao hơn. Đánh giá trình độ phát triển tư duy của HS Việc đánh giá quá trình học của HS thông qua việc đánh giá trình độ phát triển tư duy của HS bao hàm: Đánh giá trình độ phát triển năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực thực hành. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tiêu chí đánh giá các mức độ phát triển của tư duy hiện nay có nhiều quan điểm.
Đánh giá độ phát triển tư duy của HS theo Bloom Năm 1956, Benjamin Bloom, một giáo sư của trường đại học Chicago đã nêu ra sáu mức độ, thao tác tư duy. Đánh giá Tổng hợp Phân tích Vận dụng Hiểu Biết * Cụ thể như sau: - Khái niệm: Biết Nhớ lại kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại. Hiểu Là khả năng diễn dịch, diễn giải, giải thích, suy diễn (dự đoán kết quả). Vận dụng Năng lực sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đó trong hoàn cảnh mới).
Vận dụng là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo. Tức là vận dụng những gì đã học vào đời sống hoặc vào một tình huống mới. Vận dụng có thể hiểu là khả năng vận dụng kiến thức đã học trong những tình huống cụ thể hay trong tình huống mới. Phân tích Là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống.
Mức độ này đòi hỏi khả năng phân loại. Phân tích là khả năng phân nhỏ đối tượng thành các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó. Tổng hợp Là khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể/ Sự vật lớn. Ở mức độ này HS pải sử dụng những gì đã học để tạo ra hoặc sáng tạo một cái gì đó hoàn toàn mới.
Tổng hợp liên quan đến khả năng kết hợp các thành phần cùng nhau để tạo một dạng mới.