CHƯƠNG 1H SINH VẬT HỌC VÀ LỊCH SỬ Lịch sử chỉ là một phần nhỏ của sinh vật học : cuộc đời con người chỉ là một trong vô số các biến hóa của các sinh vật trên đất và dưới bê. Đôi khi đi thơ thần một mình trong rừng vào một ngày mùa hạ, ta nhìn hoặc nghe thấy sự di động của hằng trăm loài bay, nhảy, bò hoặc chui rúc dưới đất. Chúng giật mình chạy đi khi thấy ta đến. Con thì trốn trong cành lá bụi cây, con thì lặn dưới suối, con thì bay vút lên không.
Bỗng nhiên ta cảm thấy mình chỉ thuộc vào một thiểu số luôn luôn sống trong đe dọa trên trái đất vô tình này, và di bên cạnh những loài ấy, mình đã làm nảo động nơi chúng ở trong giây lát, chắc chúng cũng bực mình lắm. Lúc đó, tất cả những thành tích vẻ vang của con người đều trở vê cải vị trí tâm thường - trong lịch sử. và sự biến hóa của một cuộc sống muôn hình vạn trạng. Tất cả các sự cạnh tranh kinh tế, tranh giành trai gái, sự đói khát yêu 29 | WILL VA ARIEL DURANT thương, buồn khô và chỉnh chiến của chúng ta, tất cả có khác gì những cuộc sẵn môi, giao cấu, chiến đấu và đau khồ đang âm thầm diễn ra dưới thân cây đồ, chiếc lá rụng, dưới nước hoặc trên cành kia không 2? Do đó, các định luật sinh lý là bài học căn bản của lịch sử, Chúng ta phải chịu những diễn trình thử thách của tiến hóa, phải chịu sự cạnh tranh đề tồn tại, ưu thẳng liệt bại.
Sở dï một số người chúng ta bề ngoài có vẻ thoát khỏi luật đào thải tự nhiên tàn khốc đó là nhờ đoàn thê đã che chở cho chúng †a ; nhưng chính đoàn thê đã phải đương đầu với những thử thách đó để tồn tại. Do đó có bài học đầu tiên này của lịch sử : đời là một cuộc cạnh tranh. Cạnh tranh không phải chỉ là việc làm ăn mà là việc sinh tử. Cuộc cạnh tranh đó ôn hòa khi có nhiều thức ăn, và trở nên tàn bạo khi số miệng ăn nhiều hơn thức ăn.
Các loài vật ăn sống nuốt tươi lẫn nhau mà không biết ân hạn gì cả ; còn con người văn mình thì thủ tiêu nhau một cách hợp pháp. Sự hợp tác quả that có đấy, và gia tăng theo sự phát triền xã hội đấy, nhưng phần lớn chính vì nỏ là một công cụ và hình thức cảnh tranh. Chúng ta hợp tác trong đoàn thê của chúng ta, trong gia đình, xã hội, hội ải hữu, giáo hội, đảng, chủng tộc hoặc quốc gia của ching ta, dé lam tăng cường tư thế cạnh tranh của tập thê chống với các tập thề khác. Tập thê cũng như cá nhân, khicanh tranh thì đều tham lam, hiếu chiến, thiên vị và kiêu căng.
Quốc gia gồm nhiều BÀI HỌC CỦA LỊCH SỬ 23 người như chúng ta, nên chúng ta ra sao thì quốc gia cũng vậy. Chỉ khác là bản chất của quốc gia đậm hơn, rõ rệt hơn, và cái thiện cải ác của quốc gia cũng lớn hơn của cả nhân rất nhiều. Chúng ta tham lam, hay gây lộn bởi vì trong huyết quản còn dòng máu của ngàn thế hệ đã phải săn đuôi, chiến đấu, giết chóc. đề sinh tồn, và đã phải ăn đến phình bụng ra vì sợ còn lâu modi kiếm được con mồi khác.
Chiến tranh là cách săn mồi đề ăn của một quốc gia. Nó tạo ra sự đoàn kết chính vì nó là hình thức cạnh tranh tối eao. Khi nào các quốc gia chưa trở nên thành phần của một tập thé lớn hơn và được tập thể che chở hữu hiệu thì chúng còn tiếp tục hành động như cá nhân và gia đình trong thời kì sắn môi. Day 14 bai hoc sinh ly thir hai của lịch sử : đời là một cuộc đào thải.
Trong sự cạnh tranh đề có thức ăn, thỏa mãn tính dục hoặc cỏ quyền hành, một số sinh vật thành công, một số thất bại. Trong cuộc đấu tranh đề sinh tồn, một số người được trang bi kï hơn các người khác. Vì tạo hóa (ở đây có nghĩa là toàn bộ thực tại và các diễn trình của nó) chưa đọc kỹ bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa kỳ hoặc Tuyên ngôn Nhân quyền của Cách mạng Pháp, nên sinh ra chúng ta đã không tự do, bình đẳng: ta phải chịu những đi tr uyén về thê xác và tỉnh thần, chịu sự chỉ phối của tập quán cùng truyền thống của tập thê; mỗi người một khác về sức khỏe, sức mạnh, khả năng tỉnh thần và tính 24- WILL VA ARIEL DURANT khí. Tạo hóa thích dùng sự dị biệt đó làm chất liệu cần thiết cho sự đào thải và tiến hóa.
Ngay cả anh em sanh đôi cũng khác nhau rất nhiều, va không có hai hạt đậu nào hoàn toàn giống nhau cả. Sự bất bình đẳng không những chỉ tự nhiên và bầm sinh mà còn gia tăng cùng với sự phức tạp của nền văn minh. Sự bất bình đẳng vì di truyền gày nên sự bất bình đẳng nhân tạo trong xã hội. Bất cứ một phát minh hoặc khám phá nào cũng đều do những cá nhân xuất sắc tạo ra và lợi dụng khiến cho người khỏe lại khỏe thêm và kẻ yếu hóa ra yếu hơn.
Phát triển kinh tế gây ra sự chuyên môn hóa các chức vụ, dị biệt hóa khả năng, do đó mà có kể quí người hèn đối với tap thé. Nếu biết rất kĩ các người đồng loại thì chúng ta có thể chọn ba mươi phần trăm số người mà khả năng gom lại cũng nhiều bằng tất cả số bảy chục phần trăm kia. Cuộc sống và lịch sử đã lựa chọn, đào thải như vậy đấy, sự bất công vĩ đại đó làm cho ta nhớ tới Thượng Để của Calvin (1). Tạo hóa mim cười chế nhạo sự phối hợp giữa tự do và bình đẳng trong thế giới không tưởng của chúng ta.
Bởi vì tự do và bình đẳng vĩnh viễn là hai kẻ thủ không đội trời chung. Khi cải này mạnh thì cái kia phải chết. Cho con người được (1) Nhà cải cách tôn giáo Pháp (1509-1564). Giáo phái của ông rất nghiêm khắc, chủ trương rằng Thượng Đế có quyền chí thượng và tuyệt đối.
BÀI HỌC CỦA LỊCH SỬ 25 tự do thì sự bất bình đẳng tự nhiên giữa họ với nhau sẽ gia tăng theo cấp số nhân, như đã xảy ra tại Anh và Mỹ vào thời kỳ tự do kinh doanh ở thế kỉ mười chín. Muốn chặn bớt sự bất bình đẳng thì phải hy sinh tự do, như ở Nga sau 1917. Ngay cả khi bị kiềm chế, sự bất bình đẳng vẫn cử gia tăng. Chỉ những người ở dưởi mức trung bình về khả năng kinh tế mới muốn có bình đẳng.
Những người nào cảm thấy tài giỏi thì lại muốn tự do. Rốt cuộc hạng tài năng thường được toại nguyện. Xét về phương diện sinh lí, những quan niệm không tưởng về bình đẳng không thể nào đứng vững được. Và các nhà hiền triết đầy hảo ý chỉ có thê ước ao được một tình trạng gần như bình đẳng về pháp luật và giáo dục thôi.
Một xã hội trong đó mọi khả năng tiềm tàng được tự do phát triền và hoạt động sẽ có ưu thế tồn tại đối với - @ác nhóm cạnh tranh khác. Ngày nay (vì phương tiện giao thông và truyền tin rất tiến bộ) các quốc gia hóa ra gần nhau hơn, tiếp xúc, xung đột nhau nhiều hơn, nên sự cạnh tranh càng trở nên gay go hơn. 7 Bai hoc sinh lí thứ ba của lich sử là cuộc sống - phải sinh sản, tăng gia lên. Tạo hỏa không chấp nhận những cơ thẻ, biến trạng hoặc tập thê không biết sinh sôi nảy nở.
Tạo hóa đòi hỏi phải có nhiều về lượng rồi mới lựa chọn về phầm. Tạo hóa thích những đàn con đông và say mê nhữug cuộc đấu tranh đề giành sự sống còn cho một số ít kể 26 WILL VA ARIEL DURANT mạnh. Tạo hóa chắc hẳn phải hài lòng được chứng kiến hằng ngàn tỉnh trùng đua nhau vượt lên đề gieo tỉnh cho một cái noän. Tạo hóa chú trọng đến chủng loại nhiều hơn là cơ thề và cũng không cần phân biệt giữa văn minh va moi ro.
Tao hoa khong cần biết rằng sinh suất cao thường đi đôi với một nền văn minh thấp và sinh suất thấp thường đi đôi với một nền văn minh cao, và Tạo hóa (hiều theo nghĩa toàn thê các diễn trình sinh nở, biến thê, cạnh tranh, đào thải và sinh tồn) lại còn cố tình đề cho các quốc gia có sinh suất thấp lâu lâu đều đều bị chỉnh phạt bởi các tập thề khỏe mạnh và sinh sản nhiều hơn. Dưới thời César, dân xứ Gaule chống lại được với dân Đức nhờ các đạo quân La Mã, và ngày nay [Pháp] chống lại được Đức nhờ các đạo quân Anh, Mĩ. Khi La Mã suy tàn, dân Frane từ Đức kéo sang và biến xứ Gaule thành nước Pháp. Giả sử Anh và Mï lại suy tàn [như La Mã] thì nước Pháp với dân số gần như không thay đồi trong suốt thế kỉ XIX, có thề lại bị chỉnh phục.
Nếu loài người trở nên đông quá không kiếm đủ thức ăn thì Tạo hóa có ba cách đề lập lại thế quân bình: nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh. Trong tác phầm nồi danh Luận nề Dan sé (1798) Thomas Malthus cho rang néu khong cé nhttng su ˆ kiềm chế định kì đó thì sinh suất sẽ cao hơn tử suất đến nỗi số miệng ăn gia tăng sẽ lấn át cả số gia tăng thực phầm. Tuy là một nhà tu và một người có thiện ý, nhưng Malthus cho rằng cấp phát BAI HOC CUA LICH SU 37 tiền và phầm vật cứu trợ cho người nghèo là khuyến khích họ sinh đẻ bừa bãi, và do đó, làm cho vấn đề thêm trầm trọng. Trong lần xuất bản thứ nhì (1803) ông còn khuyên nên tiết chế giao hợp trừ khi muốn sinh sản, nhưng ông lại không chấp nhận các phương pháp kiềm soát sinh dé khác.
Biết rằng lời khuyên thánh đức này khó được chấp nhận, nên ông tiên đoán là sự quân bình giữa số miệng ăn và số thức ăn trong tương lai sẽ được duy trì bằng nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh như đã từng xảy ra trong quả khứ. Những tiến bộ về kỉ thuật canh tác và cách ngừa thai trong thế kỉ XIX có về đã bác bỏ lập luận của Malthus : tại Anh, Hoa Kì, Đức và Pháp, số cung thực phầm đã theo kịp đà sinh san, va mire sinh hoạt cao đã trì hoãn tuôi thành hôn, giảm số con trong gia đình. Có thêm người ăn thì cũng có thêm người sản xuất : những bàn tay mới đã khai thác đất mới đề có thêm thực phim.