CHƯƠNG 1. MÔI TRƯỜNG VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 1. Hiệu quả của GDMT khi đưa GDBVMT vào hệ thống GD quốc dân và thông qua giáo viên Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật con người ngày càng tạo ra những biến đổi to lớn của giới tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, những biến đổi này đang đặt con người trước nguy cơ phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề môi trường như: ô nhiễm, biến đổi khí hậu toàn cầu, sự nóng lên của trái đất, bệnh dịch, núi lửa, sóng thần….
Trước thực tế có thể đe doạ đến sự sinh tồn của loài người, các quốc gia trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế và đối phó với chúng. Giáo dục môi trường là một trong những biện pháp hữu hiệu được nhà nước đặc biệt quan tâm. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, cùng với những nỗ lực mang tính hành chính, giáo dục môi trường cộng đồng đã được thực hiện một cách rộng rãi ở nước ta từ những năm 2009 đến nay. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam cho rằng việc giáo dục môi trường cho học sinh trung học ở nước ta còn nhiều bất cập nhất là về nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy.Chính vì vậy Bộ GD và ĐT đã chỉ đạo các trường sư phạm trên cả nước đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào trong chương trình đào tạo giáo viên, trong đó có ngành sư phạm Vật lý.
Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái". Mục đích của Giáo dục môi trường nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm hoạ môi trường, xoá nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên. Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực và cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh.
Chương trình Giáo dục môi trường được đưa vào trong dạy học Vật lý bao gồm các nội dung: Một là, nội dung GDMT qua môn Vật lí. Hai là, tổ chức hoạt động GDMT. Ba là, các địa chỉ tích hợp GDMT trong dạy học Vật lí. Làm rõ các tác nhân vật lí trong cấu trúc môi trường sinh thái 1.
Cấu trúc môi trường 1. Môi trường là gì? "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn 3 tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: • Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước.
Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. • Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Ðó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định. ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,.
Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. • Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người.
Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Ðoàn, Ðội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Một số định nghĩa khác: 1. Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng.
Toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy. Môi trường tự nhiên, môi trường con người 4 + Môi trường tự nhiên hay môi trường sống là toàn bộ các điều kiện tự nhiên bao quanh sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật. MT tự nhiên MT Nhân tạo CON NGƯỜI Môi trường kinh tế - xã hội Hình 1. Hệ thống con người - môi trường Thành phần của môi trường tự nhiên gồm : - Các yếu tố vô cơ:.
đất, nước, không khí. - Các yếu tố hữu cơ:. sinh vật ( bao gồm cả con người ) - Các yếu tố vật lý: nhiệt độ, ánh sáng. + Môi trường con người (môi trường sống của con người còn gọi là môi trường địa lý ): - " Môi trường con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, trong đó con người sống và bằng lao động của mình, khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người.
- Ba bộ phận thuộc môi trường con người: Môi trường tự nhiên ; Môi trường nhân tạo ( Thành phố, làng mạc, ruộng đồng, đường xá. ); MT Kinh tế - Xã hội ( các tổ chức xã hội và kinh tế. ) - Quan hệ giữa các thành phần cấu thành môi trường: Mô hình môi trường sinh thái chung, lấy con người và hoạt động của con người làm trọng tâm. Một số khái niệm môi trường sinh thái liên quan tới vật lí 1.
Thạch quyển ( lithosphere ) còn gọi là địa quyển hay môi trường đất, gồm vỏ trái đất với độ sâu 60 - 70 km trên phần lục địa và 20 - 30 km dưới đáy đại dương. Môi trường đất ( soil environment ) thuộc vỏ phong hoá từ lớp đá mẹ lên mặt đất và bề mặt trái đất, sâu khoảng 2- 3 m , ( bazalte ~ 10 m ). Sinh quyển ( biosphere ) hay môi trường sinh học, gồm những phần của sự sống từ núi cao đến đáy đại dương, cả lớp không khí có oxy trên cao và những 5 vùng địa quyển. Đặc trưng cho hoạt động sinh quyển là các chu trình trao đổi vật chất và trao đổi năng lượng.
Sinh quyển của trái đất 1. Khí quyển ( atmosphere ) còn gọi là môi trường không khí: lớp không khí bao quanh địa cầu. khí quyển gồm nhiều tầng : Hình 1. Khí quyển của trái đất + Tầng đối lưu ( troposphere ) : từ 0 ÷ 12 km, trong tầng này nhiệt độ và áp suất giảm theo độ cao, đỉnh tầng đối lưu nhiệt độ khoảng - 50∝ → -80 ∝.
+ Tầng bình lưu ( stratosphere ): độ cao 10 + 50 km. trong tầng này nhiệt độ tăng dần và đạt 0 ∝ ở 50 km, áp suất khoảng 0 mm hg. Ở đỉnh tầng bình lưu có một lớp khí đặc biệt là ozone, có khả năng che chắn mạnh các tia tử ngoại và hạn chế các tia này xuyên xuống mặt đất giết hại sinh vật. + Tầng trung lưu ( menosphere ): từ 50 ÷90 km, nhiệt độ ở tầng này giảm dần và đạt khoảng - 90 ∝ → - 100 ∝.
+ Tầng ngoài ( thermosphere ) : từ 90 km trở lên, trong tầng này không khí cực loãng và nhiệt độ tăng đần theo độ cao. + Tầng đối lưu có ảnh hưởng quyết định đến môi trường sinh thái địa cầu. Không khí trong khí quyển có thành phần gần như không thay đổi: 78% nitơ ; 20,95 6 % oxy ; 0,93 % agon ; 0,03 % CO2 ; 0,02 % Ne ; 0,005 % He, ngoài ra còn có hơi nước, một số vi sinh vật. Thuỷ quyển ( hydrosphere ) hay môi trường nước : Bao gồm tất cả các phần nước của trái đất ( hồ ao, sông ngòi, đại dương, băng tuyết, nước ngầm.
Thủy quyể là một thành phần không thể thiếu được của môi trường sinh thái toàn cầu. Nước duy trì sự sống , có ý nghĩa quyết định cho sự vận chuyển, trao đổi trong môi trường. Sự phân chia cấu trúc các quyển nnhư trên chỉ là tương đối.Thực tế, trong lòng mỗi quyển đều có mặt các thành phần quan trọng của quyển khác, chúng bổ xung và tương tác lẫn nhau, liên hệ mật thiết với nhau. - Có thể chia môi trường sinh thái làm 3 hệ: Hệ vô sinh, hệ hữu sinh và hệ loài người, tương ứng như sau: + Môi trường vật lý ( physical environment ): gồm đất, nước, không khí ở đó diễn ra các quá trình lý, hoá học.
+ Đa dạng sinh học ( biodiversity ) : giới sinh vật với sự đa dạng về nguồn gien , chủng loại.