CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO, QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN 1.1 KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO. Hiện tại có rất nhiều tác giả trên thế giới và trong nước đưa ra khái niệm rủi ro, mặc dù về câu chữ đôi khi các khái niệm này có sự khác nhau do các tác giả đứng trên nhiều gốc độ khi tiếp cận vấn đề. Tác giả Nguyễn Quang Thu (2008), định nghĩa: “Rủi ro là khả năng sẽ xảy ra một kết quả có lợi hay không có lợi từ một mối nguy hiểm hiện hữu” hay “rủi ro là một điều kiện trong đó khả năng một sự bất lợi sẽ xuất hiện so với dự đoán khi có biến cố xảy ra” (10, trang 9). Có nhiều tiêu thức để phân loại rủi ro: - Rủi ro có và không kèm theo tổn thất về tài chính - Rủi ro động và rủi ro tĩnh - Rủi ro căn bản và rủi ro riêng biệt - Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán.
Trên thực tế, việc phân biệt rủi ro động và rủi ro tĩnh được sử dụng nhiều hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Rủi ro động là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt là trong nền kinh tế. Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -14- Rủi ro tĩnh là những rủi ro mà hậu quả của nó chỉ liên quan đến sự xuất hiện tổn thất hay không chứ không có khả năng sinh lời và không chịu sự ảnh hưởng của những thay đổi trong nền kinh tế.
Những rủi ro tĩnh thường liên quan đến các đối tượng: tài sản, con người, trách nhiệm dân sự. Rủi ro bao gồm một số thuộc tính sau đây: - Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn, không mang tính chắc chắn - Rủi ro được cấu thành bởi hai yếu tố đó là tần suất xuất hiện rủi ro và hậu quả của nó - Rủi ro có tính chất động, luôn thay đổi theo các yếu tố tác động liên quan - Rủi ro có thể đo lường được thông qua việc đánh giá về mức độ, tần suất và hậu quả của rủi ro 1.2 Quản trị rủi ro. Đi từ khái niệm rủi ro trên, quản trị rủi ro cũng có nhiều khái niệm khác nhau tuỳ theo việc áp dụng quản trị rủi ro vào lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, theo tác giả Quách Đăng Hoà (2008) thì quản trị rủi ro chung nhất có thể được định nghĩa như sau: “Quản trị rủi ro nói chung có thể được hiểu là hành động để nhận diện về khả năng và mức độ xảy ra của rủi ro, qua đó áp dụng các biện pháp để kiểm soát thích hợp đối với rủi ro đó.” (4, trang 9) Các biện pháp lựa chọn để xử lý rủi ro có hiệu quả bao gồm: Ngăn chặn không cho rủi ro xuất hiện; giảm thiểu khả năng và hậu quả của rủi ro có thể xảy ra; né tránh rủi ro; chuyển giao rủi ro; chấp nhận rủi ro.
Việc lựa chọn biện pháp và hình thức nào là tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường thực tế và năng lực của người lựa chọn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -15- Thực tế, quản trị rủi ro hay quản lý rủi ro đã được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả ở nhiều lĩnh vực tư nhân lẫn quản lý nhà nước.2 LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO, QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN.1 Bối cảnh về sự ra đời phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan. David Widdowson (2005) trong cuốn Customs Modernization Handbook, Chương 5, khái quát về bối cảnh sự ra đời phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan như sau: Quá trình hình thành và phát triển của ngành Hải quan gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của “người gác cửa nền kinh tế”, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, trước đây, ngành Hải quan luôn nổ lực kiểm tra, kiểm soát đối với tất cả các dòng dịch chuyển, hàng hoá, phương tiện, qua lại biên giới nhằm đảm bảo thực thi pháp luật và nguồn thu cho quốc gia. Phương pháp quản lý theo cách truyền thống này đã tồn tại trong rất nhiều năm cho đến những năm của thập kỷ 80 – 90 thể kỷ XX, khi xu hướng toàn cầu hoá kinh tế ngày càng trở nên phổ biến, theo đó các dòng chảy thương mại ngày càng gia tăng đột biến, trong khi nguồn nhân lực của ngành Hải quan gia tăng không đáng kể do phải đặt dưới tầm kiểm soát về nhân sự của bộ máy nhà nước.
Vấn đề này đã đặt ra cho Hải quan các nước đứng trước nguy cơ thiếu nguồn nhân lực, quá tải về khối lượng công việc, mất khả năng kiểm soát do phải dàn trải về công việc, đặc biệt là sức ép của cộng đồng doanh nghiệp trong việc tạo thuận lợi cho thương mại, trong khi chính phủ đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ. Dẫn đến hoạt động của Hải quan luôn có sự mâu thuẫn giữa hai mục tiêu cơ bản đó là: tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại, đồng thời phải đảm bảo kiểm soát Hải quan theo mục tiêu quản lý của từng quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -16- Hai mục tiêu trên không chỉ là áp lực của ngành Hải quan đối với chính phủ của mình mà còn là giữa chính phủ nước này đối với chính phủ nước khác trong việc thực hiện các cam kết về tự do thương mại. Sự mâu thuẫn này được thể hiện thông qua ma trận sau: Hình 1.1: Ma trận tạo thuận lợi và kiểm soát Cao (1) (4) Phương pháp Phương pháp quản lý quản lý quan liêu cân bằng kiểm soát Phương pháp Phương pháp (3) (2) quản lý quản lý khủng hoảng không can thiệp Thấp Tạo thuận lợi Cao Nguồn: David Widdowson (2005) Customs Modernization Handbook trang 92 Nhìn vào ma trận chúng ta thấy: Ô (1): Mục tiêu quản lý kiểm soát cao, tạo thuận lợi thấp, còn được xem là cách quản lý quan liêu: cơ quan Hải quan kiểm soát chặt chẽ, đánh đồng giữa các đối tượng kiểm soát, đây là cách quản lý truyền thống của Hải quan trước đây.
Mục tiêu quản lý này được xem là một cản trở rất lớn trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại toàn cầu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -17- Ô (2): Mục tiêu quản lý kiểm soát thấp, tạo thuận lợi thấp, còn gọi là cách quản lý khủng hoảng: đây là cách quản lý kiểm soát ở mức độ thấp nhưng cũng không tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại. Cách quản lý này cũng không mang lại hiệu quả gì cho hoạt động thương mại cũng như chính phủ. Ô (3): Mục tiêu quản lý kiểm soát thấp, tạo thuận lợi cao hay còn gọi là cách quản lý không can thiệp: cách quản lý này tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp nhưng lại kiểm soát ở mức độ thấp.
Cách quản lý này chứa đựng nhiều rủi ro đối với một quốc gia. Ô (4): Mục tiêu quản lý kiểm soát cao và tạo điều kiện thuận lợi cao hay còn gọi là cách quản lý cân bằng: cách quản lý này tạo được sự cân bằng cho cả nhiệm vụ kiểm soát và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, cả hai khía cạnh này đều quan tâm ở mức độ cao. Cách quản lý này tối đa hoá hiệu quả quản lý của cơ quan Hải quan đồng thời mang lại lợi ích cao cho doanh nghiệp. Rõ ràng để đạt được mục tiêu quản lý như ô (4) không phải dễ, bởi vì đây là mục tiêu chứa đựng hai yếu tố mâu thuẫn nhau.
Trong nhiều phương pháp quản lý được Hải quan các nước vận dụng để đạt được mục tiêu tại ô (4), thì phương pháp quản lý rủi ro đáp ứng được yêu cầu, được Hải quan nhiều nước trên thế giới áp dụng có hiệu quả. Tháng 06/1999 tổ chức Hải quan thế giới đã thông qua công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục Hải quan gọi tắt là công ước KYOTO sửa đổi (hiệu lực 03/02/2006) trong đó đã đưa ra các khuyến nghị 6.5 về việc áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan. Kể từ khi công ước KYOTO sửa đổi được phê chuẩn, Hải quan nhiều nước trước đây chưa áp dụng phương pháp quản lý rủi ro đã nghiên cứu áp dụng phương pháp quản lý này và đạt được kết quả như mong muốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Rủi ro trong lĩnh vực Hải quan.
Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đưa ra định nghĩa về rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động Hải quan như sau: “rủi ro trong lĩnh vực Hải quan là nguy cơ tìm ẩn việc không tuân thủ pháp luật Hải quan.” hay nói cách khác “rủi ro trong lĩnh vực Hải quan được hiểu là việc không chấp hành hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ pháp luật Hải quan.” (8, trang 8) Như vậy, rủi ro chính là những cản trở của việc đạt đến mục tiêu mà ngành Hải quan đang hướng đến. Để đáp ứng yêu cầu quản lý, ngoài việc xem xét rủi ro trong từng bối cảnh, cơ quan Hải quan còn phải xem xét nó trong từng lĩnh vực và trong thời điểm cụ thể. Do rủi ro vừa mang tính chất động vừa mang tính chất tĩnh nên rủi ro cần được xác định chính xác theo thời điểm. Khi nghiên cứu khái niệm rủi ro trong lĩnh vực Hải quan, cần phân biệt 2 khái niệm đó là: rủi ro và vi phạm pháp luật Hải quan - Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn vi phạm pháp luật Hải quan - Vi phạm pháp luật Hải quan là những hành vi vi phạm cụ thể đã được phát hiện và xử lý.3 Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan.
Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan là việc ứng dụng một cách có hệ thống các chính sách, thủ tục và thông lệ nhằm cung cấp cho cơ quan Hải quan những thông tin cần thiết về các dòng dịch chuyển, các lô hàng hoá, nơi có sự hiện diện của rủi ro để từ đó có biện pháp kiểm soát các rủi ro đó. (8, trang 4) Các nguyên tắc khi áp dụng phương pháp quản lý rủi ro: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -19- - Cơ quan Hải quan phải áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm soát nhằm đạt được các mục tiêu thu thuế, chính sách thương mại, bảo vệ cộng đồng; quản lý được sự gia tăng của dòng chảy thương mại quốc tế.