CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 1. Một số vấn đề chung về áp dụng hình phạt tử hình. Khái niệm về áp dụng hình phạt: Theo Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”. Như vậy về lý luận pháp luật thì đây là hoạt động của Tòa án, là chủ thể được quy định trong BLHS.
Biện pháp cưỡng chế của Nhà nước chỉ phát huy tác dụng trong đấu tranh, phòng chống tội phạm khi được Tòa án nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam áp dụng thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự bằng bản án của Hội đồng xét xử (do Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện). Việc HĐXX ra bản án áp dụng hình phạt đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội là kết tinh của quá trình đánh giá tính hợp pháp của các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập được. Tuy nhiên phán quyết của HĐXX được đưa ra là một quá trình tư duy trong một quy trình tố tụng chặt chẽ. Đó là sự thuân thủ nguyên tắc xử lý chung được quy định tại Điều 3 BLHS; các nguyên tắc xử lý, áp dụng hình phạt đối với các trường hợp đặc biệt như đối với người chưa thành niên phạm tội, các nguyên tắc áp dụng hình phạt tử hình; sự áp dụng chính xác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; nhân thân người phạm tội (Điều 50 BLHS - Căn cứ quyết định hình phạt); sự áp dụng chính xác các điều luật quy định tội phạm cụ thể và hình 9 Luan van phạt tương ứng.
Theo quy định tại Điều 32 BLHS thì Tòa án chỉ được áp dụng các hình phạt được quy định trong BLHS, bao gồm hình phạt chính như: Cảnh cáo, Phạt tiền, Cải tạo không giam giữ, Trục xuất, Tù có thời hạn, Tù chung thân, Tử hình (7 loại) cùng với các hình phạt bổ sung được quy định tại Điều 32 BLHS và các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều 33 BLHS. Và cuối cùng là đưa ra một hình phạt tương ứng với hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra, tương xứng với mức độ phản ứng, tự vệ của Nhà nước. Việc HĐXX áp dụng hình phạt chính xác sẽ phát huy tích cực hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, đem lại sự bình yên cho xã hội và góp phần cải tạo, giáo dục người phạm tội; làm cho họ thấy được tính nghiêm minh của pháp luật để tự giác cải tạo. Suy cho cùng một đạo luật dù có tiên tiến đến đâu nhưng hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án kém hiệu quả thì đạo luật đó sẽ không đi vào đời sống xã hội, không phục vụ lợi ích an ninh, an toàn của xã hội, hay ở nghĩa khác là sức mạnh tự vệ của Nhà nước bị giảm sút.
Khái niệm, đặc điểm của áp dụng hình phạt tử hình: Áp dụng hình phạt tử hình là một quy trình tố tụng đặc biệt, được thực hiện dựa trên nền tảng pháp lý được quy định tại Điều 30 BLHS. Tuy nhiên khi áp dụng một hình phạt cụ thể đối với một tội danh cụ thể, đặc biệt là hình phạt tử hình thì nó còn có những nét đặc biệt và đặc thù. Vì vậy khái niệm, đặc điểm của áp dụng hình phạt tử hình cũng có những nét đặc thù, riêng biệt mà việc áp dụng các hình phạt khác không có. - Khái niệm: + Về phương diện pháp luật: Tử hình là một hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất được quy định trong pháp luật hình sự, tác động trực tiếp lên hành vi của người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bắt họ phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện sự phản ứng cứng rắn nhất của Nhà nước.
Hay nói cách khác khi một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng gây phương hại to lớn đến sự an toàn xã hội, đến tính mạng con người…đến mức 10 Luan van phải tử hình thì họ phải trả giá tương xứng cho hành vi phạm tội của mình bằng hình phạt tử hình do Nhà nước đặt ra, đó là giới hạn cuối cùng của sự phòng vệ của Nhà nước. Áp dụng hình phạt tử hình để tước đoạt quyền sống của người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng được thực hiện thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo một trình tự thủ tục chặt chẽ do BLTTHS quy định. + Về phương diện thực tiễn: Nếu như chỉ dừng lại ở quy định của pháp luật hình sự thực định thì sẽ không có bản án tử hình và thi hành án tử hình xảy ra. Do đó hình phạt tử hình chỉ được tác động lên hành vi của người phạm tội thông qua tư duy của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật đó là Hội đồng xét xử.
Thẩm phán, Hội thẩm là những người tiến hành tố tụng phải nghiên cứu, đánh giá tác hại do hành vi phạm tội gây ra cho xã hội và cho con người. Nếu hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đó cần thiết phải áp dụng tử hình thì Hội đồng xét xử căn cứ vào điều luật quy định trong BLHS để tuyên bản án tử hình đối với người phạm tội. Như vậy bản án tử hình thể hiện việc Hội đồng xét xử nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thay mặt cho Nhà nước thực hiện sự phản ứng mạnh mẽ nhất và cao nhất đối với người phạm tội thông qua phương tiện do Nhà nước đặt ra đó là pháp luật về hình phạt tử hình, với hình thức thể hiện là một bản án kết tội và tuyên hình phạt tử hình đối với người đó. Từ phương diện pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình tác giả đề xuất một khái niệm về áp dụng hình phạt tử hình như sau: “Áp dụng hình phạt tử hình là một quy trình tố tụng đặc biệt, chặt chẽ do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, được Hội đồng xét xử của Tòa án có thẩm quyền nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam áp dụng các quy định về hình phạt tử hình để xét xử và tuyên án tử hình đối với một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; được kết thúc bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật”.
11 Luan van - Đặc điểm: Nếu như hình phạt tử hình dưới góc độ pháp luật có những đặc điểm riêng của nó thì hoạt động áp dụng hình phạt tử hình cũng có những đặc điểm riêng của nó và có mối liên hệ không thể tách rời với các đặc điểm về hình phạt tử hình. Theo đó trên quan điểm xã hội học thì áp dụng hình phạt tử hình có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất: Áp dụng hình phạt tử hình là một quy trình tố tụng bắt buộc và chặt chẽ nhất được chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định thực hiện. Vì tử hình là tước bỏ quyền sống của người phạm tội; là một việc hệ trọng nên quy trình tố tụng bắt buộc chặt chẽ hơn việc áp dụng hình phạt không phải là tử hình. Chủ thể áp dụng chỉ là Hội đồng xét xử mà thôi.
Thứ hai: Áp dụng hình phạt tử hình gắn liền với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Bỡi lẽ chỉ có tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì BLHS mới quy định hình phạt tử hình và không phải mọi trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đều bắt buộc tử hình mà còn phải thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng (trong tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có trường hợp đặc biệt nghiêm trọng). Thứ ba: Áp dụng hình phạt tử hình chính là cụ thể hóa phản ứng cao nhất và cuối cùng của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng bằng việc Hội đồng xét xử căn cứ vào hình phạt tử hình do Nhà nước quy định trong BLHS tuyên bản án tử hình đối với người phạm tội và bản án được thi hành thông qua quy trình, thủ tục đặc biệt mang tính nhân đạo nhất. Tức là Nhà nước không còn cách phản ứng nào khác ngoài việc phải tử hình người phạm tội.
Thứ tư: Áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội danh quy định trong Bộ luật Hình sự là sự răn đe cần thiết của Nhà nước, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay. Nghĩa là chỉ có những tội đặc biệt nghiêm trọng gây phương hại lớn (đặc biệt) cho xã hội thì mới áp dụng hình 12 Luan van phạt tử hình, còn những tội gây phương hại không lớn thì Nhà nước phản ứng bằng cách khác như tù chung thân, tù có thời hạn… Thứ năm: Áp dụng hình phạt tử hình là chỉ đối với cá nhân người phạm tội. Tử hình là đối với con người cụ thể, không thể tử hình đối với pháp nhân thương mại phạm tội mặc dù pháp nhân thương mại là một trong hai chủ thể của trách nhiệm hình sự. Thứ sáu: Áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình không chỉ để tước đoạt quyền sống của người bị kết án mà còn để loại trừ các trường hợp đặc biệt ra khỏi hình phạt tử hình.
Trong những trường hợp đặc biệt (như người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử), mặc dù tính chất hành vi phạm tội, hậu quả do họ gây ra ngang nhau với tính chất hành vi phạm tội và hậu quả do người phạm tội bình thường gây ra, lẽ ra phải tử hình nhưng Tòa án không áp dụng hình phạt tử hình đối với họ. Các nội dung này thể hiện chính sách nhân đạo đặc biệt của Nhà nước, vì vậy đây cũng là đặc điểm đặc biệt của áp dụng hình phạt tử hình. Thứ bảy: Áp dụng hình phạt tử hình là đảm bảo sự công bằng của xã hội, “đáng tội chết thì phải chết”. Nếu đáng tội chết mà không phải chết là sự bất công bằng và không phải là bản chất của pháp luật.