Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, cướp tài sản là loại tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội. Hành vi này không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản mà còn đe dọa hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến quyền nhân thân (tính mạng, sức khỏe, sự tự do của con người) — một khách thể đặc biệt quan trọng được Luật Hình sự bảo vệ.

Thực tiễn áp dụng pháp luật để xét xử tội cướp tài sản tại Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng thời gian qua cho thấy hoạt động xét xử của Tòa án vẫn còn bộc lộ những sai sót nhất định. Tồn tại thực tế một số vụ án phải qua nhiều cấp xét xử hoặc bị hủy, sửa do xác định chưa đúng tội danh, áp dụng hình phạt chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hoặc áp dụng không chính xác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Những tồn tại này làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, làm giảm tính răn đe, phòng ngừa và niềm tin của người dân vào tính công minh của cơ quan tư pháp. Đồng thời, một số quy định tại Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội cướp tài sản và quyết định hình phạt vẫn mang tính khái quát cao, thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hình phạt và áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) điều chỉnh tội cướp tài sản và các quy định về căn cứ, nguyên tắc quyết định hình phạt.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021; chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản trong thực tiễn xét xử.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt; các quy định pháp luật hình sự thực định về tội cướp tài sản và thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội danh này.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hải Phòng (thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hải Phòng).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và các bản án xét xử thực tế trong giai đoạn 4 năm (2018 - 2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, chính sách hình sự và đấu tranh phòng chống tội phạm. Khung lý thuyết và pháp lý trọng tâm bao gồm:

  • Khái niệm và hệ thống hình phạt theo Điều 30, Điều 32, Điều 33 BLHS năm 2015.
  • Cơ chế áp dụng hình phạt và căn cứ quyết định hình phạt theo Điều 50, Điều 51 (22 tình tiết giảm nhẹ), Điều 52 (15 tình tiết tăng nặng), Điều 54 (quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung), Điều 59 (miễn hình phạt), Điều 65 (án treo), Điều 91 (nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội) BLHS năm 2015.
  • Cấu thành tội phạm và các khung hình phạt của tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Quy định về quyền sở hữu và tài sản theo Điều 158 BLDS năm 2015; các hướng dẫn áp dụng án treo tại Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Khái niệm áp dụng hình phạt dựa trên công trình nghiên cứu của PGS.TS. Trần Văn Độ (2019).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các quy phạm pháp luật hình sự, tổng hợp các vấn đề lý luận về định tội danh, cá thể hóa hình phạt và các yếu tố cấu thành tội phạm.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các quy định về tội cướp tài sản giữa BLHS năm 2015 và các bộ luật hình sự trước đây (BLHS năm 1999) để làm rõ điểm mới; đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn xét xử.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý dữ liệu xét xử từ các báo cáo công tác thường niên của TAND TP. Hải Phòng (giai đoạn 2018–2021).
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ án và khảo sát thực tiễn: Tiến hành khảo sát mẫu gồm 100 bản án hình sự sơ thẩm về tội cướp tài sản và trích lục hồ sơ các vụ án điển hình tại TAND thành phố Hải Phòng, TAND quận Hồng Bàng, TAND quận Hải An.

Nguồn dữ liệu sử dụng:

  • Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án của TAND TP. Hải Phòng các năm 2018, 2019, 2020, 2021.
  • Hồ sơ, bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm lưu trữ tại TAND TP. Hải Phòng, TAND quận Hải An, TAND quận Hồng Bàng.
  • Báo cáo số liệu dân số năm 2021 của Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Hải Phòng và số liệu thống kê kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản

Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng trong khoa học luật hình sự:

  • Khái niệm hình phạt và áp dụng hình phạt: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước (Điều 30 BLHS 2015). Áp dụng hình phạt là giai đoạn của hoạt động áp dụng pháp luật, trong đó Tòa án căn cứ vào việc định tội, các tình tiết của vụ án để lựa chọn biện pháp trách nhiệm hình sự, loại và mức hình phạt cụ thể trong chế tài quy phạm để tuyên trong bản án kết tội.
  • Đặc điểm của áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản: Bao gồm 4 đặc điểm: (1) Chủ thể thực hiện là Tòa án và đối tượng áp dụng là người bị kết tội cướp tài sản; (2) Tính lựa chọn và tùy nghi của Tòa án khi cá thể hóa hình phạt trong phạm vi khung luật định; (3) Tính khoa học và sáng tạo đòi hỏi năng lực, đạo đức của Thẩm phán và Hội thẩm; (4) Trình tự, thủ tục áp dụng chặt chẽ, diễn ra sau khi hoàn thành việc định tội danh.
  • Nguyên tắc áp dụng: Bao gồm nguyên tắc nhân đạo; nguyên tắc cá thể hóa hình phạt; nguyên tắc công bằng; nguyên tắc bảo đảm tính quyết định xã hội; nguyên tắc độc lập, vô tư, khách quan và toàn diện.
  • Căn cứ quyết định hình phạt: Tòa án phải dựa trên các căn cứ: (1) Các quy định phần chung và chế tài Điều 168 BLHS 2015; (2) Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi (hậu quả, mức độ lỗi, mối quan hệ nhân quả, giai đoạn thực hiện tội phạm); (3) Nhân thân người phạm tội (đặc điểm pháp lý hình sự, xã hội - nhân khẩu, tâm lý - đạo đức); (4) Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
  • Ý nghĩa: Áp dụng hình phạt đúng có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc (nâng cao hiệu quả cải tạo, củng cố niềm tin của nhân dân), ý nghĩa pháp lý (cơ sở cho thi hành án và hoàn thiện pháp luật), và ý nghĩa thực tiễn (răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm).

Chương 2: Các quy định về áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 - Thực tiễn áp dụng tại Hải Phòng

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định và số liệu xét xử thực tế:

  • Cơ cấu khung hình phạt tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015): Chia thành 5 khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
    • Khung 1 (khoản 1): Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
    • Khung 2 (khoản 2): Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (áp dụng cho các trường hợp: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; gây thương tích/tổn hại sức khỏe tỷ lệ 11% - 30%; sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, không có khả năng tự vệ; gây ảnh hưởng xấu đến ANTT, ATXH; tái phạm nguy hiểm).
    • Khung 3 (khoản 3): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (chiếm đoạt từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng; thương tích tỷ lệ 31% - 60%; lợi dụng thiên tai, dịch bệnh).
    • Khung 4 (khoản 4): Phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên; thương tích 1 người từ 61% trở lên hoặc 2 người trở lên mà mỗi người từ 31% trở lên; làm chết người; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp).
    • Khung 5 (khoản 5): Chuẩn bị phạm tội cướp tài sản bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
    • Hình phạt bổ sung (khoản 6): Phạt tiền từ 10 đến 100 triệu đồng, quản chế, cấm cư trú từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần/toàn bộ tài sản.
    • Điểm mới: Bỏ các tình tiết định tính "gây hậu quả nghiêm trọng/rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng"; bỏ hình phạt tử hình tại khoản 4; bổ sung quy định xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội.
  • Thực tiễn xét xử tại Hải Phòng (2018 - 2021):

Bảng 1: Thống kê số vụ thụ lý, xét xử tội cướp tài sản so với tổng số án hình sự chung tại TAND hai cấp TP. Hải Phòng (2018 - 2021)

Năm Tổng án hình sự chung (Số vụ) Tổng bị cáo án hình sự chung Số vụ án cướp tài sản Số bị cáo cướp tài sản Tỷ lệ vụ án cướp / án chung (%) Tỷ lệ bị cáo cướp / bị cáo chung (%)
2018 1.656 2.567 81 133 4,64 4,92
2019 1.767 2.765 92 160 4,94 5,40
2020 2.002 2.999 103 180 5,11 5,88
2021 2.101 3.100 109 195 4,93 5,91
Tổng 7.526 11.431 385 668 19,62 (tính gộp) 22,11 (tính gộp)

Bảng 2: Kết quả quyết định hình phạt đối với tội cướp tài sản tại TP. Hải Phòng (2018 - 2021)

Năm Số vụ Số bị cáo Án treo Tù ≤ 3 năm Tù > 3 - 7 năm Tù > 7 - 15 năm Tù > 15 - 20 năm Tù chung thân Áp dụng HP bổ sung
2018 81 133 9 10 90 30 11 5 29
2019 92 160 8 11 92 32 16 7 24
2020 103 180 8 12 92 35 18 8 38
2021 109 195 9 6 98 39 23 10 40
Tổng 385 668 34 39 372 136 68 30 131
  • Hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn:
    • Áp dụng sai căn cứ tăng nặng: Bản án số 17 ngày 15/7/2018 của TAND quận Hồng Bàng xử phạt bị cáo Phạm Văn A 8 năm 6 tháng tù, áp dụng tình tiết tái phạm theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS cũ đối với tiền án khi bị cáo chưa đủ 16 tuổi (trái quy định tại khoản 6 Điều 69 BLHS). TAND TP. Hải Phòng xử phúc thẩm đã phải giảm án xuống 7 năm 6 tháng tù.
    • Đánh giá tính chất đồng phạm chưa chính xác: Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2019/HSST (số hiệu trong văn bản 5172019/HSST) ngày 27/4/2020 của TAND quận Hải An tuyên phạt Nguyễn Văn Phụng 8 năm 6 tháng tù theo điểm d khoản 2 Điều 168 do đồng phạm Lê Văn Phi mang súng bắn điện đi đòi nợ Đỗ Văn Thức (gây thương tích 2%). Phụng không biết việc Phi mang súng, mục đích chỉ đòi nợ, hậu quả thương tích thấp nên mức án sơ thẩm bị đánh giá là quá nặng.
    • Sai sót khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ và Điều 54 BLHS: Khảo sát 100 bản án cho thấy có 6 bản án (tỷ lệ 6%) áp dụng Điều 54 khoản 1 để xử dưới khung khi bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 kết hợp với tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51. Tình trạng lạm dụng khoản 2 Điều 51 (coi việc là sinh viên, có chồng đi tù là tình tiết giảm nhẹ).
    • Áp dụng án treo chưa chặt chẽ: Áp dụng Điều 54 kết hợp Điều 65 cho bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hưởng án treo khi chưa đủ điều kiện, hoặc xử tù giam đối với trường hợp đủ điều kiện hưởng án treo do nặng về mục đích trừng trị.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện lập pháp và thực tiễn áp dụng:

  • Hoàn thiện quy định về tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS):
    • Tách bạch rõ các hành vi khách quan: Chỉ những hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe mới cấu thành tội cướp tài sản; hành vi dùng vũ lực/đe dọa không nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe cần chuyển sang tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170).
    • Làm rõ hành vi "dùng thủ đoạn khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được".
    • Giới hạn cụ thể đối tượng tác động của tội cướp tài sản chủ yếu là động sản hữu hình (vật, tiền, giấy tờ có giá), loại trừ các tài sản vô hình/quyền tài sản khó bị chiếm đoạt ngay tại chỗ.
  • Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng hình phạt:
    • Hướng dẫn phân biệt phạm tội có tổ chức giản đơn (nhất thời, 2-3 người) với nhóm tội phạm có tổ chức chặt chẽ, chuyên nghiệp để cá thể hóa hình phạt tương xứng.
    • Hướng dẫn cụ thể tình tiết "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội".
    • Khắc phục sự bất hợp lý tại khoản 2 Điều 168 khi đánh đồng hành vi sử dụng phương tiện nguy hiểm (chưa gây thương tích) với hành vi gây thương tích thực tế từ 11% đến 30%.
    • Cân nhắc khôi phục hình phạt tử hình ở khoản 4 Điều 168 đối với trường hợp cướp tài sản có hành vi làm chết người mang tính chất man rợ, nguy hiểm cao.
  • Hoàn thiện các quy định chung về áp dụng hình phạt:
    • Chế định miễn TNHS (Điều 29): Quy định chỉ Tòa án mới có thẩm quyền tuyên bố miễn TNHS tại phiên tòa; bãi bỏ điều kiện bắt buộc "tự nguyện bồi thường thiệt hại" tại khoản 3 Điều 29 đối với tội phạm ít nghiêm trọng/nghiêm trọng do vô ý không có thiệt hại hoặc bị hại không yêu cầu.
    • Mục đích hình phạt (Điều 31): Thay đổi tư duy, giảm tính trừng trị hà khắc, nâng cao tính giáo dục, hướng thiện và nhân đạo.
    • Căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50): Bổ sung tiêu chí cụ thể để định lượng mức độ nguy hiểm của hành vi.
    • Hướng dẫn khoản 2 Điều 54 BLHS 2015: Thống nhất quan điểm người phạm tội lần đầu là người giúp sức có vai trò không đáng kể có cần phải có đủ 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 hay không.
  • Giải pháp thực tiễn tại Hải Phòng: Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ Tòa án, Viện kiểm sát; tăng cường phối hợp liên ngành điều tra - truy tố - xét xử; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả dữ liệu thực tế: Khóa luận tổng kết toàn diện dữ liệu xét xử sơ thẩm tội cướp tài sản tại TAND hai cấp TP. Hải Phòng trong giai đoạn 2018–2021:
    • Tổng số thụ lý, xét xử: 385 vụ với 668 bị cáo.
    • Phân bổ mức án phạt tù có thời hạn chiếm ưu thế tuyệt đối: mức án từ trên 03 năm đến 07 năm tù chiếm số lượng lớn nhất với 372 bị cáo (chiếm 55,69% tổng số bị cáo); tiếp theo là mức án từ trên 07 năm đến 15 năm (136 bị cáo); từ trên 15 năm đến 20 năm (68 bị cáo); từ 03 năm trở xuống (39 bị cáo); án treo (34 bị cáo); tù chung thân (30 bị cáo); và 131 bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung.
    • Tỷ lệ giải quyết án đạt trung bình 96% số vụ thụ lý hàng năm.
    • Khảo sát thực tế 100 bản án phát hiện tỷ lệ sai sót 6% liên quan đến việc áp dụng sai quy định tại Điều 54 BLHS 2015 khi xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
  • Đóng góp của nghiên cứu:
    • Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận vấn đề áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản gắn liền với số liệu và thực tiễn xét xử cụ thể tại địa bàn thành phố Hải Phòng theo BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • Chỉ ra những vướng mắc thực tế mang tính điển hình tại địa phương như việc nhầm lẫn tiền án của người chưa đủ 16 tuổi khi xác định tái phạm, lạm dụng tình tiết giảm nhẹ mở tại khoản 2 Điều 51, và sự thiếu thống nhất trong áp dụng khoản 2 Điều 54.
    • Đóng góp hệ thống kiến nghị hoàn thiện kỹ thuật lập pháp cho Điều 168, Điều 29, Điều 50, Điều 54 BLHS năm 2015 và các đề xuất giải pháp nghiệp vụ cho các cơ quan tiến hành tố tụng tại Hải Phòng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hải Phòng trong mốc thời gian từ năm 2018 đến năm 2021; số lượng bản án khảo sát chi tiết dừng lại ở mẫu 100 bản án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản ở phạm vi liên tỉnh hoặc toàn quốc; nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa công tác thi hành án hình sự, tái hòa nhập cộng đồng với hiệu quả phòng ngừa tội phạm cướp tài sản trên thực tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự tham khảo về phương pháp phân tích thực tiễn xét xử, phương pháp xử lý số liệu bản án và kỹ thuật đối chiếu quy phạm thực định.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư tham khảo các sai sót thực tế được chỉ ra (về xác định tình tiết định khung, áp dụng Điều 54, Điều 65 và tính chất đồng phạm) nhằm rút kinh nghiệm trong quá trình giải quyết các vụ án cướp tài sản.
  • Các cơ quan nghiên cứu lập pháp tham khảo những đề xuất sửa đổi cụ thể đối với Điều 168, Điều 29 và Điều 54 BLHS năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong giai đoạn 2018 - 2021, Tòa án nhân dân hai cấp TP. Hải Phòng đã xét xử bao nhiêu vụ án và bị cáo phạm tội cướp tài sản? Từ năm 2018 đến năm 2021, TAND hai cấp TP. Hải Phòng đã thụ lý và xét xử sơ thẩm tổng cộng 385 vụ án với 668 bị cáo về tội cướp tài sản (năm 2018: 81 vụ/133 bị cáo; năm 2019: 92 vụ/160 bị cáo; năm 2020: 103 vụ/180 bị cáo; năm 2021: 109 vụ/195 bị cáo).

2. Mức hình phạt nào được Tòa án tại Hải Phòng áp dụng phổ biến nhất đối với tội danh này? Mức hình phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm (thuộc khung hình phạt tại khoản 1 Điều 168) được áp dụng phổ biến nhất, với tổng cộng 372 bị cáo trong tổng số 668 bị cáo bị xét xử trong giai đoạn 2018–2021 (chiếm hơn 55%).

3. Khóa luận chỉ ra sai sót cụ thể nào trong việc áp dụng tình tiết tăng nặng tại bản án sơ thẩm của TAND quận Hồng Bàng? Tại Bản án sơ thẩm số 17 ngày 15/7/2018, TAND quận Hồng Bàng đã áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm nguy hiểm" đối với bị cáo Phạm Văn A dựa trên tiền án năm 2017, khi đó bị cáo chưa đủ 16 tuổi. Việc này vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 69 BLHS (án đã tuyên đối với người phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi không tính để xác định tái phạm). Tòa phúc thẩm TAND TP. Hải Phòng đã phải sửa án, giảm từ 8 năm 6 tháng tù xuống 7 năm 6 tháng tù.

4. Khảo sát 100 bản án của tác giả phát hiện vấn đề gì trong việc áp dụng Điều 54 BLHS năm 2015? Khảo sát 100 bản án phát hiện có 6 bản án (tỷ lệ 6%) áp dụng Điều 54 khoản 1 để tuyên phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt khi bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 kết hợp với tình tiết giảm nhẹ tự xác định ở khoản 2 Điều 51 (trong khi luật yêu cầu phải có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51).

5. Tác giả có những đề xuất lập pháp cụ thể nào nhằm hoàn thiện Điều 168 BLHS năm 2015? Tác giả đề xuất: Tách riêng và quy định rõ chỉ hành vi dùng vũ lực/đe dọa dùng vũ lực nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe mới cấu thành tội cướp tài sản; làm rõ khái niệm "thủ đoạn khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được"; quy định đối tượng tác động của tội phạm chủ yếu là động sản hữu hình; và xem xét khôi phục hình phạt tử hình tại khoản 4 đối với trường hợp cướp tài sản làm chết người.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Văn Phú đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt và phân tích chi tiết quy định của BLHS năm 2015 đối với tội cướp tài sản. Thông qua số liệu thống kê 385 vụ án/668 bị cáo và khảo sát 100 bản án thực tế tại Hải Phòng giai đoạn 2018–2021, công trình đã phản ánh chân thực kết quả xét xử cùng những vướng mắc, sai sót điển hình trong việc cá thể hóa hình phạt tại địa phương. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị có giá trị khoa học nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng.