Định Hướng Áp Dụng Giá Trị Hợp Lý Trong Kế Toán Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh định hướng về việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Kinh Tế

2018

360
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam

Giá trị hợp lý (GTHL) đã trở thành một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực kế toán, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, việc áp dụng GTHL trong kế toán vẫn còn nhiều thách thức và cơ hội. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về GTHL, từ khái niệm đến ứng dụng thực tiễn trong kế toán Việt Nam.

1.1. Khái niệm giá trị hợp lý trong kế toán

Giá trị hợp lý được định nghĩa là giá mà một tài sản có thể được trao đổi giữa các bên có thiện chí trong một giao dịch. Khái niệm này giúp cải thiện tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính.

1.2. Lịch sử phát triển của giá trị hợp lý tại Việt Nam

Việt Nam bắt đầu áp dụng GTHL từ năm 2001, nhưng việc áp dụng này vẫn còn hạn chế. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng GTHL cần được mở rộng để phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng giá trị hợp lý

Mặc dù GTHL mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng nó tại Việt Nam gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu hụt thông tin, sự không đồng nhất trong quy định và sự thiếu hiểu biết về GTHL là những rào cản lớn.

2.1. Thiếu hụt thông tin và dữ liệu

Nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam không có đủ thông tin cần thiết để áp dụng GTHL một cách chính xác. Điều này dẫn đến việc đánh giá tài sản không chính xác và ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính.

2.2. Sự không đồng nhất trong quy định

Các quy định về GTHL tại Việt Nam chưa đồng bộ với các chuẩn mực quốc tế, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện và báo cáo tài chính.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp áp dụng giá trị hợp lý

Để giải quyết các vấn đề liên quan đến GTHL, cần có những phương pháp nghiên cứu và giải pháp cụ thể. Việc áp dụng các phương pháp định lượng và định tính sẽ giúp đánh giá chính xác hơn về GTHL.

3.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ giúp thu thập dữ liệu từ nhiều doanh nghiệp, từ đó phân tích mức độ áp dụng GTHL và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.

3.2. Giải pháp cải thiện áp dụng GTHL

Cần xây dựng các hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp về cách áp dụng GTHL, đồng thời tổ chức các khóa đào tạo để nâng cao nhận thức về GTHL trong cộng đồng kế toán.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về giá trị hợp lý

Việc áp dụng GTHL trong thực tiễn đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Nghiên cứu cho thấy rằng GTHL không chỉ cải thiện tính minh bạch mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh.

4.1. Kết quả từ các doanh nghiệp áp dụng GTHL

Nhiều doanh nghiệp đã ghi nhận sự cải thiện trong báo cáo tài chính và sự tin tưởng từ nhà đầu tư khi áp dụng GTHL một cách hiệu quả.

4.2. Các nghiên cứu điển hình về GTHL tại Việt Nam

Một số nghiên cứu điển hình cho thấy rằng việc áp dụng GTHL đã giúp các doanh nghiệp tăng cường khả năng quản lý tài chính và giảm thiểu rủi ro.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho giá trị hợp lý trong kế toán

Kết luận cho thấy rằng GTHL có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng báo cáo tài chính tại Việt Nam. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc cải thiện quy định và nâng cao nhận thức về GTHL.

5.1. Định hướng cải cách quy định về GTHL

Cần có những cải cách trong quy định về GTHL để phù hợp hơn với chuẩn mực quốc tế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

5.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức

Đào tạo và nâng cao nhận thức về GTHL cho các nhà quản lý và kế toán viên là cần thiết để đảm bảo việc áp dụng GTHL hiệu quả trong tương lai.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh định hướng về việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ Chương này sẽ làm rõ các nghiên cứu về GTHL trên thế giới và các nghiên cứu về GTHL ở VN để từ đó xác định khe hổng nghiên cứu và đề xuất vấn đề cần nghiên cứu tại VN Với mục tiêu nghiên cứu trên tác giả đã khảo sát các nghiên cứu trên thế giới và VN, bao gồm các bài báo và luận văn/luận án. Chủ đề được nghiên cứu chia thành năm nhóm chính: nghiên cứu về tính thích hợp, tính đáng tin cậy, mức độ ủng hộ GTHL, các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn GTHL và mức độ áp dụng GTHL. Chương này bao gồm ba phần: 1. Tổng quan các nghiên cứu về GTHL trên thế giới; 2.

Các nghiên cứu trước đây tại VN; 3. Xác định vấn đề nghiên cứu của luận án. Tổng quan các nghiên cứu về giá trị hợp lý trên thế giới Song song với sự hình thành và phát triển của GTHL là các nghiên cứu về GTHL. Các nghiên cứu này bắt đầu từ thế kỷ thứ 18 ở các quốc gia đã phát triển như Hoa Kỳ, Anh sau đó lan sang các quốc gia đang phát triển, Sự xuất hiện của GTHL được cho là một tất yếu khách quan nhằm khắc phục những nhược điểm của các cơ sở đo lường khác (Sebastian và cộng sự, 2014).

Dù nhận được khá nhiều sự đồng thuận, nhưng cũng có nhiều quan điểm khác nghi ngờ liệu GTHL có thỏa mãn các đặc điểm chất lượng để trở thành một cơ sở đo lường thật sự? Nhìn chung, các tranh luận về GTHL chủ yếu xoay quanh đặc điểm chất lượng cơ bản là tính thích hợp và đáng tin cậy5. Do vậy, dòng nghiên cứu chính liên quan đến GTHL là nghiên cứu về các đặc điểm chất lượng cơ bản – tính thích hợp và tính đáng tin cậy - (chiếm tỉ trọng 67%6 trên tổng số các nghiên cứu về GTHL) với các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu là: GTHL có thích hợp? GTHL có đáng tin cậy? Phụ lục 4 liệt kê các nghiên cứu thuộc dòng nghiên cứu này cho thấy sự đa dạng thể hiện ở các đối tượng nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu khác nhau, các phương pháp thu thập dữ liệu khác nhau, sử dụng nhiều dạng mô hình khác nhau cho các khoản 5 Hiện tại, IASB và FASB đã đổi tên thuật ngữ “đáng tin cậy” thành thuật ngữ “trình bày trung thực” với lý do thuật ngữ “trình bày trung thực” mô tả tốt hơn thuận ngữ “đáng tin cậy” [IASB – KMLT 2015, trang 9). Tuy nhiên trong các nghiên cứu thuật ngữ đáng tin cậy vẫn được sử dụng và trong chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng đang sử dụng thuật ngữ này, nên để dễ hiểu luận án vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ “đáng tin cậy”. 6 Khảo sát từ google scholar tại ngày 13/5/2016.

1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục khác nhau. Dòng nghiên cứu chính này gắn với sự hình thành và phát triển của GTHL vì vậy nó được thực hiện ở các quốc gia đã áp dụng GTHL, dựa vào phương pháp định lượng, dữ liệu chủ yếu được thu thập qua thị trường vốn để quan sát phản ứng của nhà đầu tư với các thông tin được công bố trên BCTC. Sau đó dòng nghiên cứu về đặc điểm chất lượng được mở rộng sang các quốc gia khác ở giai đoạn chưa áp dụng GTHL để đo lường cảm nhận của nhà đầu tư, nhà quản lý, kiểm toán viên và nhà ban hành chuẩn mực về tính thích hợp, tính đáng tin cậy và mức độ ủng hộ GTHL với phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát hoặc thông qua phương pháp thí nghiệm. Bên cạnh dòng nghiên cứu chính về đặc điểm chất lượng của GTHL còn có dòng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn áp dụng GTHL.

Dòng nghiên cứu này giúp nhận diện các nhân tố tác động đến sự lựa chọn GTHL từ đó giúp ích cho các quốc gia xác định phạm vi áp dụng GTHL trong giai đoạn áp dụng lần đầu. Ngoài ra, còn có dòng nghiên cứu về đo lường mức độ hòa hợp giữa các quy định của quốc gia và chuẩn mực kế toán quốc tế - đây là dòng nghiên cứu mức độ hòa hợp hình thức (formal harmonization) để từ đó xác định được khoảng cách do không áp dụng GTHL. Trong phần này luận án sẽ khái quát các nghiên cứu trước đây về GTHL theo các dòng nghiên cứu này. Nghiên cứu về tính thích hợp của giá trị hợp lý Trong lịch sử phát triển của kế toán có rất nhiều phương pháp đo lường khác nhau như giá gốc, giá hiện hành, GTHL… để mỗi loại giá được chính thức sử dụng trong các chuẩn mực thì các nhà ban hành chuẩn mực thường dựa vào các nghiên cứu về tính thích hợp để xem giá nào là thích hợp hơn trong việc đo lường giá trị doanh nghiệp.

Theo quan điểm của các nhà lập quy “Giá trị kế toán là thích hợp nếu nó có thể giúp người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra một quyết định khác hơn” [SFAC số 5], “Thông tin thích hợp khi nó có thể làm thay đổi quyết định của người sử dụng” [KMLT - IASB]. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, một giá trị được xem là giá trị thích hợp nếu nó “ảnh hưởng đáng kể đến giá thị trường của vốn chủ sở hữu” (Amir và cộng sự, 1993), “phản ánh sự hài lòng của nhà đầu tư” (Barth và cộng sự, 2001), “cung cấp các con số dự đoán về giá trị thị trường vốn hoặc sự biến đổi tuyến tính của giá trị thị trường vốn” 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy tính thích hợp của GTHL được khẳng định hoàn toàn trên nhiều phương diện: đầu tiên, GTHL được chứng minh là giá trị thích hợp, điều này càng có ý nghĩa hơn khi giá gốc, giá hiện hành được chứng minh không là giá trị thích hợp và GTHL được chứng minh không là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính. Cụ thể: (1) GTHL là giá trị thích hợp Các nghiên cứu về tính thích hợp của GTHL ở các quốc gia đã áp dụng GTHL chủ yếu là nghiên cứu dựa vào thị trường vốn.

Câu hỏi nghiên cứu là các biến kế toán được đo lường theo GTHL tác động như thế nào đến nhà đầu tư? GTHL có tốt hơn giá gốc trong việc giải thích phản ứng của nhà đầu tư? Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính dữ liệu chéo, với biến phụ thuộc là giá cổ phiếu, hoặc giá thị trường của vốn cổ phần, hoặc lợi nhuận cổ phần. Biến độc lập là giá sổ sách của vốn cổ phần, GTHL của các khoản mục được nghiên cứu, chênh lệch GTHL trừ giá gốc của các khoản mục được nghiên cứu, thu nhập. hoặc có thêm các biến kiểm soát như quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, chất lượng kiểm toán…. Việc lựa chọn biến phụ thuộc và biến độc lập tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và mô hình được sử dụng.

Có ba dạng mô hình hồi quy được sử dụng (phụ lục 5), được Holthausen và Watts (2001) gọi tên là: mô hình bảng cân đối (balance sheet model), mô hình thu nhập (earnings model) và mô hình Ohlson (Ohlson model). Nhìn chung, các nghiên cứu đều kết luận rằng GTHL của tài sản và nợ phải trả là thích hợp. Cụ thể: GTHL của tài sản phi tài chính là giá trị thích hợp trong các nghiên cứu về: tài sản vô hình (Barth và Clinch (1998)); bất động sản, nhà xưởng, thiết bị (Easton và cộng sự, 1993; Barth và Clinch, 1998; Aboody và cộng sự, 1999); bất động sản đầu tư (Danbolt và Rees, 2008). Anh và Úc là hai quốc gia đầu tiên cho phép đánh giá lại tài sản, vì thế hàng loạt các nghiên cứu cho các khoản mục tài sản là các nghiên cứu thực hiện tại hai quốc gia này.

Easton và cộng sự (1993) khi nghiên cứu 72 doanh nghiệp trong lĩnh vực 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghiệp từ năm 1981 đến 1990 đã chứng minh rằng thặng dư đánh giá lại7 tốt hơn thu nhập (hoặc thay đổi của thu nhập) trong việc giải thích lợi nhuận của cổ phiếu. Hơn nữa các tác giả cũng cho rằng việc đánh giá lại làm cho giá sổ sách của vốn chủ sở hữu bằng với giá thị trường của vốn; thặng dư đánh giá lại làm cho tỉ lệ giá thị trường của vốn cổ phần trên giá sổ sách của vốn cổ phần tiến đến một. Barth và Clinch (1998) thực hiện nghiên cứu đối với tài sản tài chính, bất động sản, nhà xưởng, thiết bị và tài sản vô hình cho 846 doanh nghiệp ở Úc trong giai đoạn 1991 - 1995 đã chứng minh rằng đánh giá lại theo GTHL đối với tài sản tài chính, tài sản cố định và tài sản vô hình là giá trị thích hợp. Cả giá trị đánh giá lại cao hơn giá gốc và thấp hơn giá gốc đều là giá trị thích hợp.

Nếu như các nghiên cứu trước biến phụ thuộc là giá cổ phiếu được quan sát từ thị trường thì nghiên cứu của Barth và Clinch (1998) giá cổ phiếu được ước tính từ thu nhập trong tương lai. Tương tự như vậy, nghiên cứu của Aboody và cộng sự (1999) quan sát 738 doanh nghiệp ở Anh các năm 1983 – 1995 kết luận rằng giá trị đánh giá lại có mối quan hệ thuận với biến phụ thuộc (với giá cổ phiếu, lợi nhuận cổ phiếu và kết quả hoạt động tương lai). Mối quan hệ giữa giá cổ phiếu hoặc lợi nhuận cổ phiếu với giá trị đánh giá lại là mối quan hệ yếu đối với doanh nghiệp có tỉ lệ nợ trên vốn cao. Danbolt và Rees (2008) khi quan sát 446 doanh nghiệp bất động sản ở Anh trong giai đoạn 1993 – 2002 cũng đưa ra kết luận “thu nhập theo GTHL thì thích hợp hơn thu nhập theo giá gốc hoặc theo UK GAAP”.

GTHL của công cụ tài chính là giá trị thích hợp trong các nghiên cứu về chứng khoán nợ, chứng khoán vốn, và khoản cho vay của ngân hàng (Barth, 1994; Barth và cộng sự, 1996; Nelson, 1996; Eccher và cộng sự, 1996; Brickner, 2002); các khoản đầu tư của công ty bảo hiểm (Petroni và Wahlen, 1995); công cụ phái sinh (Venkatachalam, 1996). Nghiên cứu về GTHL của công cụ tài chính trong ngân hàng là mảng đề tài có nhiều nghiên cứu nhất. Barth (1994) cho rằng GTHL của chứng khoán đầu tư tốt hơn giá gốc trong việc giải thích giá thị trường của vốn chủ sở hữu. Kết luận này cũng được Nelson (1996) đưa ra khi kiểm tra các ngân hàng với mẫu là 146 cho năm 1992 và 133 mẫu cho năm 1993.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ