Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán tp hồ chí minh

Nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại TP Hồ Chí Minh.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2018

140
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.1. Các nghiên cứu trước đây trên thế giới

1.2. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam

1.3. Nhận xét các nghiên cứu trước đây và khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Cơ sở lý thuyết về BCTC

2.2. Khái quát về BCTC

2.3. Mục đích của BCTC

2.4. Cơ sở lý thuyết về kiểm toán BCTC và ý kiến kiểm toán

2.5. Mục đích của kiểm toán BCTC

2.6. Báo cáo kiểm toán về BCTC

2.7. Ý kiến kiểm toán

2.8. Các dạng ý kiến kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế

2.9. Các dạng ý kiến kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

2.10. Cơ sở lý thuyết về tính kịp thời của thông tin trên BCTC và quy định công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam

2.11. Tính kịp thời của thông tin trên BCTC

2.12. Khái niệm tính kịp thời của thông tin trên BCTC

2.13. Đo lường tính kịp thời của thông tin trên BCTC

2.14. Quy định công bố thông tin trên TTCK Việt Nam

2.15. Quy định công bố thông tin trên TTCK Việt Nam theo TT155/2015/TT-BTC

2.16. Những điểm mới của TT 155/2015/TT-BTC

2.17. Các lý thuyết nền tảng

2.17.1. Lý thuyết đại diện (Agency theory)

2.17.2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information theory)

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Giả thuyết nghiên cứu

3.3. Định nghĩa các biến nghiên cứu

3.3.1. Biến phụ thuộc

3.3.2. Biến độc lập

3.3.3. Biến ý kiến kiểm toán cải thiện (DIMP)

3.3.4. Biến ý kiến kiểm toán suy giảm (DDETER)

3.3.5. Biến mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán (OPNCHG)

3.3.6. Biến kiểm soát

3.3.7. Biến lợi nhuận kỳ vọng (UE)

3.3.8. Biến thay đổi công ty kiểm toán (AS)

3.3.9. Biến CEO kiêm nhiệm (DUAL)

3.3.10. Biến Đòn bẩy tài chính (LEV)

3.3.11. Biến Quy mô công ty (SIZE)

3.4. Mô hình nghiên cứu

3.5. Phân tích ảnh hưởng của chiều hướng thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC

3.6. Phân tích ảnh hưởng của mức độ thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC

3.7. Phương pháp chọn mẫu

3.8. Quy định chọn mẫu

3.9. Quy trình chọn mẫu

3.10. Kết quả chọn mẫu

3.11. Quy trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả

4.2. Thống kê mô tả số lượng ý kiến kiểm toán trong giai đoạn nghiên cứu

4.3. Thống kê mô tả thời gian công bố BCTC theo từng năm

4.4. Thống kê mô tả chênh lệch thời gian công bố BCTC giữa năm hiện tại và năm trước đó

4.5. Phân tích tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc

4.6. Phân tích hồi quy tuyến tính

4.7. Phân tích ảnh hưởng của chiều hướng thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC

4.8. Phân tích ảnh hưởng của sự cải thiện của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC

4.9. Phân tích ảnh hưởng của sự suy giảm của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC

4.10. Phân tích ảnh hưởng của mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC

4.11. Bàn luận về kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kiến nghị liên quan đến việc nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC

5.2. Kiến nghị liên quan đến việc ban hành các chuẩn mực kế toán

5.3. Kiến nghị liên quan đến việc quản lý và giám sát của UBCKNN và SGDCK tới việc công bố BCTC của các công ty niêm yết

5.4. Kiến nghị liên quan đến việc hoàn thiện phương tiện công bố thông tin

5.5. Hạn chế của luận văn

5.5.1. Hạn chế trong việc đo lường biến phụ thuộc

5.5.2. Hạn chế trong việc đo lường biến độc lập

5.5.3. Hạn chế trong việc chọn mẫu

5.6. Đề xuất nghiên cứu trong tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính (BCTC) là tài liệu quan trọng cung cấp thông tin về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tính kịp thời của BCTC ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Ý kiến kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc xác thực thông tin trên BCTC. Nghiên cứu này sẽ phân tích mối quan hệ giữa sự thay đổi ý kiến kiểm toán và tính kịp thời của BCTC tại TP. Hồ Chí Minh.

1.1. Khái niệm và vai trò của báo cáo tài chính

BCTC cung cấp thông tin cần thiết cho các bên liên quan, bao gồm nhà đầu tư, cơ quan quản lý và các bên khác. Tính kịp thời của BCTC giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn.

1.2. Ý kiến kiểm toán và ảnh hưởng đến báo cáo tài chính

Ý kiến kiểm toán phản ánh chất lượng thông tin trong BCTC. Các ý kiến không phải chấp nhận toàn phần có thể làm giảm độ tin cậy của BCTC, từ đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.

II. Thách thức trong việc công bố báo cáo tài chính kịp thời tại TP

Việc công bố BCTC kịp thời gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ. Các công ty thường trì hoãn công bố thông tin bất lợi, dẫn đến việc giảm tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính.

2.1. Tình trạng minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thông tin không minh bạch. Điều này ảnh hưởng đến khả năng ra quyết định của nhà đầu tư và làm giảm tính kịp thời của BCTC.

2.2. Áp lực từ nhà đầu tư và quản lý

Các nhà quản lý thường chịu áp lực từ nhà đầu tư trong việc công bố thông tin. Thông tin tốt thường được công bố sớm hơn, trong khi thông tin xấu bị trì hoãn, dẫn đến sự không công bằng trong việc tiếp cận thông tin.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính kịp thời của BCTC. Dữ liệu được thu thập từ các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2013-2016.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu được thiết kế để thu thập dữ liệu từ các BCTC đã kiểm toán. Các biến nghiên cứu bao gồm chiều hướng và mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán.

3.2. Phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết

Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp hồi quy để kiểm định tác động của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC. Kết quả sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ này.

IV. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi ý kiến kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến tính kịp thời của BCTC. Các công ty có ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần thường công bố BCTC nhanh hơn so với các công ty có ý kiến không chấp nhận toàn phần.

4.1. Phân tích mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thời gian công bố

Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có ý kiến kiểm toán tích cực công bố BCTC sớm hơn, trong khi các công ty có ý kiến tiêu cực thường trì hoãn công bố.

4.2. Tác động của mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán

Mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán cũng ảnh hưởng đến thời gian công bố BCTC. Các công ty có sự cải thiện trong ý kiến kiểm toán thường công bố BCTC nhanh hơn.

V. Kết luận và kiến nghị cho tương lai

Nghiên cứu kết luận rằng ý kiến kiểm toán có ảnh hưởng lớn đến tính kịp thời của BCTC tại TP. Hồ Chí Minh. Để nâng cao tính kịp thời, cần có các biện pháp cải thiện quy trình kiểm toán và công bố thông tin.

5.1. Đề xuất cải thiện quy trình kiểm toán

Cần cải thiện quy trình kiểm toán để giảm thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán, từ đó nâng cao tính kịp thời của BCTC.

5.2. Khuyến nghị về chính sách công bố thông tin

Cần có các chính sách rõ ràng về công bố thông tin để đảm bảo tính minh bạch và kịp thời, giúp nhà đầu tư có thông tin đầy đủ để ra quyết định.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán tp hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu trước đây trên thế giới Các nghiên cứu liên quan đến tính kịp thời của BCTC đã xuất hiện từ những năm 80 của thế kỷ XX và sau đó phát triển đa dạng với rất nhiều bài nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Các nghiên cứu phần lớn chú trọng đến mối liên hệ giữa tính kịp thời của BCTC và thông tin về lợi nhuận của công ty, và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, và đều nghiên cứu dựa trên nguyên tắc tin tốt được công bố trước, tin xấu được công bố sau (good news early, bad news later). Những nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa tính kịp thời của BCTC và thông tin về lợi nhuận của công ty sớm nhất là của Givoly và Palmon (1982), Chamber và Penman (1984), Kross và Schroeder (1984).

Trong ba nghiên cứu trên, các tác giả đã thử nghiệm kiểm tra phản ứng của thị trường chứng khoán đối với tính kịp thời của BCTC. Tổng quan, các nghiên cứu này cho thấy rằng các BCTC được công bố sớm hơn thời gian dự kiến của chúng được kết hợp với việc lợi nhuận tăng vượt mức bình thường, trong khi các BCTC được công bố trễ hơn thời gian dự kiến liên quan đến lợi nhuận giảm bất thường, hay có thể hiểu là thông tin tốt (good news) được công bố sớm hơn thông tin xấu (bad news). Những kết quả này chỉ ra rằng tính kịp thời của BCTC có thể được sử dụng như là một tín hiệu để phân biệt các công ty với những tin tức tốt lành và các công ty có tin tức xấu, và các nhà đầu tư nhận ra tín hiệu này trong quá trình ra quyết định đầu tư của họ. Trong phạm vi của luận văn, tác giả tóm tắt một số công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau: [1] Tên đề tài: Audit Qualification and the Timeliness of Corporate Annual Reports (Báo cáo kiểm toán với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần và tính kịp thời của BCTC thường niên của doanh nghiệp) Tác giả: G.

Whittred Nguồn: The Accounting Review, Vol. 563-577 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Năm phát hành: 1980 Nội dung: + Nghiên cứu điều tra tác động của các báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần tới tính kịp thời của BCTC năm tại Úc. + Mẫu nghiên cứu bao gồm 245 BCTC đã kiểm toán của 120 công ty niêm yết tại SGDCK Sydney (Úc), trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1974. + Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng ba cách: (1) Số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày BCTC sơ bộ của doanh nghiệp được công bố chính thức tại SGDCK Sydney (Preliminary Lag).

+ Thử nghiệm trong nghiên cứu này so sánh hành vi báo cáo của các công ty có báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần với một mẫu ngẫu nhiên của các công ty có báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn phần, và với hành vi báo cáo của chính các công ty đó trong những năm trước khi có báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần. + Kết quả kiểm định (bao gồm kiểm định Kruskal-Wallis và kiểm định Mann- Whitney) cho thấy bằng chứng về các công ty có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần chậm trễ trong việc công bố BCTC sơ bộ (theo yêu cầu của Cơ quan quản lý Giao dịch Chứng khoán Úc) và BCTC năm (theo yêu cầu của Luật doanh nghiệp 1961). Kết quả cũng cho thấy rằng mức độ nghiêm trọng của ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần càng cao thì càng có sự chậm trễ trong việc công bố BCTC. Cụ thể, công ty có báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC trung bình sau 107 ngày, trong khi công ty với ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần công bố chậm trễ hơn trung bình 62 ngày, trong đó có ý kiến ngoại trừ công bố BCTC sau 17 ngày so với công ty có ý kiến chấp nhận toàn phần.

Thêm vào đó, 50% số công ty có ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC sớm hơn trung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 bình 12 ngày so với năm trước đó nếu năm trước có ý kiến ngoại trừ, và 28 ngày nếu năm trước có ý kiến trái ngược hoặc từ chối phát hành ý kiến. Những kết quả này được xem xét và được lập luận giải thích rằng lý do hợp lý cho sự chậm trễ này do sự gia tăng của thời gian cần thiết để hoàn thành cuộc kiểm toán cuối năm và thời gian dành cho việc thảo luận ý kiến kiểm toán giữa kiểm toán viên và khách hàng. Graul và James D. Newton Nguồn: Contemporary Accounting Research, Vol.

657-673 Năm phát hành: 1989 Nội dung: + Nhóm tác giả lập luận rằng thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán (audit delay) ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, do đó nhóm tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán (audit delay) để xác định tính kịp thời của BCTC. + Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu bao gồm 465 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Toronto (Canada) trong giai đoạn 1977 – 1982. + Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán. + Nhóm tác giả đề xuất các nhân tố có thể ảnh hưởng đến rằng thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán bao gồm (1) quy mô công ty, (2) lĩnh vực hoạt động, (3) tháng kết thúc năm tài chính, (4) công ty kiểm toán, (5) dấu hiệu của thu nhập, (6) các khoản mục đặc biệt, (7) các khoản nợ tiềm tàng và (8) loại ý kiến kiểm toán và xây dựng mô hình dựa trên các nhân tố này.

+ Kết quả phân tích hồi quy mô hình cho thấy các biến có mối quan hệ nhất quán với thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán qua 6 năm phạm vi nghiên cứu bao gồm (1) quy mô công ty, (2) lĩnh vực hoạt động, (5) dấu hiệu của thu nhập và (6) các khoản mục đặc biệt. Các biến còn lại có ý nghĩa thống kê nhưng tỷ lệ biến đổi của thời gian LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hoàn tất báo cáo kiểm toán được giải thích bởi các biến là rất thấp. Cụ thể, (1) quy mô công ty (đo lường bằng tổng tài sản) có ảnh hưởng ngược chiều với thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán. Về (2) lĩnh vực hoạt động, công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính có thời gian thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán nhanh hơn các công ty trong các lĩnh vực khác.

Về (5) dấu hiệu của thu nhập, công ty có thu nhập thuần âm sẽ có thời gian thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán dài hơn các công ty có thu nhập thuần lớn hơn hoặc bằng không. Và sự xuất hiện (6) các khoản mục đặc biệt trên BCTC, dù cho chúng có tác động làm tăng hay giảm thu nhập thuần, thì đều kéo dài thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán. [3] Tên đề tài: Timeliness of corporate and audit reports: Some empirical evidence in the French context (Tính kịp thời của BCTC của doanh nghiệp và báo cáo kiểm toán: Một số bằng chứng thực nghiệm tại Pháp) Tác giả: Bahram Soltani Nguồn: The International Journal of Accounting, Vol 37, pp. 215–246 Năm phát hành: 2002 Nội dung: + Nghiên cứu được thực hiện để xem xét hai vấn đề chính liên quan đến tính kịp thời của BCTC tại Pháp gồm (1) sự cải thiện trong tính kịp thời của BCTC của các công ty tại Pháp (bao gồm BCTC riêng và BCTC hợp nhất), và (2) tác động của các loại báo cáo kiểm toán khác nhau tới tính kịp thời của BCTC.

+ Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu bao gồm 5,801 BCTC của các công ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Paris (Pháp) trong vòng 10 năm, giai đoạn 1986 – 1995. + Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán. + Kết quả kiểm định Chi bình phương có thấy thời gian từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán của các công ty niêm yết giảm dần từ năm 1986 (114.1 ngày), có nghĩa là có sự cải thiện tính kịp thời của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 BCTC của các công ty niêm yết tại Pháp sau 10 năm. Trong đó, các công ty với BCTC riêng giảm đi 10.5 ngày vào năm 1985, và 111.3 ngày vào năm 1995), công ty với BCTC giảm tới 16 ngày (120.8 ngày vào năm 1985, và 104.

Với loại báo cáo kiểm toán, BCTC với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần giảm 34.2 ngày vào năm 1985, và 66.9 ngày vào năm 1995), còn BCTC với ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần chỉ giảm 22.5 ngày vào năm 1985, và 109.2 ngày vào năm 1995), công ty có báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC kịp thời hơn so với công ty có báo cáo kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần. Về tác động của dạng ý kiến không phải chấp nhận toàn phần, tác giả đưa ra nhiều dạng ý kiến khác nhau, bao gồm ý kiến ngoại trừ (được tác giả phân loại gồm ý kiến ngoại trừ do hạn chế thông tin khoản mục, ngoại trừ do nhiều khoản mục không đảm bảo, ngoại trừ do không tuân thủ chuẩn mực và quy định, ngoại trừ do thiếu trích lập dự phòng hưu trí cho nhân viên, ngoại trừ do các khoản dự phòng khác, và các ý kiến ngoại trừ khác), ý kiến trái ngược và từ chối phát hành ý kiến kiểm toán. Thời gian ký báo cáo kiểm toán của công ty thay đổi theo mức độ nghiêm trọng của ý kiến kiểm toán, với thời gian trung bình của báo cáo từ chối phát hành ý kiến kiểm toán là 179.8 ngày, báo cáo với ý kiến trái ngược là 129.5 ngày, và báo cáo với ý kiến ngoại trừ dao động từ 115. Từ đó, Soltani cũng kết luận rằng mức độ chấp thuận càng giảm thì thời gian công bố báo cáo kiểm toán càng chậm hơn (the more serious the qualification, the greater the delay).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ