Đặt vấn đề Thung lũng Arava kéo dài từ phía Nam biển Chết đến vịnh Eilat, gần Hồng Hải. Hầu hết đất đai tại thung lũng đều trơ trọi bởi khí hậu quá nóng. Nhiệt độ vào mùa hè ở Arava rất cao, có những ngày lên đến 50 độ C. Tuy nhiên, nƣời dân Israel đang lỗ lực cố gắng biến nó thành thung lũng xanh bằng việc áp dụng các công nghệ kỹ thuật và sản xuất nông nhiệp, mở rộng các trang trại, vùng trồng cây xanh, cây nông nghiệp xuất khẩu.
Đây là nƣớc có nền nông nghiệp phát triển bậc nhất thế giới. Hiện Israel nói chung và vùng Arava nói riêng có nhu cầu rất lớn về tiếp nhận Tu nghiệp sinh và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Với trƣơng trình Tu nghiệp sinh, mỗi năm, có khoảng 1.400 sinh viên từ 80 quốc gia trên thế giới đến các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp và các farm trên vùng Arava nói riêng để hóc tập, nghiên cứu và lao động thực tế nhằm nâng cao kiến thức. Riêng ngƣời nhập cƣ với tƣ cách lao động vào vùng Arava cũng rất lớn.
Hàng năm Arava tiếp nhận khoảng 4.000 lao động nƣớc ngoài. Trong số đó chủ yếu là ngƣời lao động đến từ Thái Lan (chiếm khoảng 60%), số còn lại phân đều ở các nƣớc Indonesia, Trung quốc, Việt Nam, Lào và Philippines. Trƣớc đây, rác thải sinh hoạt chủ yếu là chất thải rắn chƣa trở thành vấn đề gây ô nhiễm lớn. Nhƣng trong thời gian gần đây cùng với quá trình phát triển nông nghiệp cao thì sự di chuyển dân cƣ do lực lƣợng lao động và tu nghiệp sinh tập trung đông về một khu vực đã trở thành nguyên nhân gây phát sinh lƣợng lớn chất thải rắn sinh hoạt.
2 Moshav Ein yahav thuộc vùng Arava, quận Nam, Israel. Năm 1950, một trạm thử nghiệm nông nghiệp đƣợc thành lập ở Ein Yahav bởi các thành viên của Shahal, một phong trào giải quyết các khu vực khô cằn của Israel. Với 67 năm hoạt động và phát triển, ngày nay Ein Yahav là Moshav có lịch sử sử hình thành và phát triển lâu đời nhất ở vùng Arava. Trong thời gian gần đây, việc có nguồn lao động nhập khẩu dồi dào và các bƣớc tiến khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế của Moshav Ein Yahav nói chung và các chủtrạng trại nói riêng.
Bên cạnh các lợi ích về phát triển kinh tế còn phát sinh các ảnh hƣởng tiêu cực khác. Đặc biệt là sự ô nghiễm môi trƣờng do phát sinh chất thải sinh hoạt. Do lƣợng lao động nhập khẩu quá lớn so với số dân ở moshav và đặc thù văn hóa sinh hoạt mỗi vùng quốc gia lãnh thổ cộng thêm ý thức của ngƣời lao động đa phần đến từ các vùng nông thôn nghèo kém phát triển kèm theo đó là ô nhiễm môi trƣờng do lƣợng rác thải sinh hoạt không đƣợc thu gom, đổ bỏ bừa bãi. Cần phải có những hoạt động nhƣ thế nào để xử lý lƣợng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên? Cần làm gì để nâng cao hiệu quả quản lý tại khu vực Arava nói chung và Moshav Ein Yahav nói riêng? Để trả lời đƣợc câu hỏi đó, em tiến hành thực hiện đề tài"Đánh giá ảnh hưởng của việc tăng dân số do dân lao động xuất khẩu và tu nghiệp sinh đến quản lý chất thải rắn tại moshav Ein Yahav, vùng Arava, quân Nam, Israel”.
Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích của đề tài Đánh giá ảnh hƣởng của việc tăng dân số do dân lao động xuất khẩu và tu nghiệp sinh đến quản lý chất thải rắn ở Moshav Ein Yahav. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá hiện trạng số lƣợng rác thải ra và thu gom trƣớc khi dân lao động xuất khẩu và tu nghiệp sinh chuyển tới. 3 - Đánh giá sự thay đổi dân số trƣớc và sau khi dân lao động xuất khẩu và tu nghiệp sinh chuyển tới.
- Đánh giá lƣợng rác và công tác thu gom rác hiện tại. - Tìm hiểu về đánh giá của ngƣời dân về môi trƣờng trƣớc và sau khi dân lao động xuất khẩu và tu nghiệp sinh chuyển tới. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn hiện tạiMoshav Ein Yahav, vùng Arava, quận Nam, Israel. Ý nghĩa của đề tài a.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trƣờng vào thực tế. - Rèn luyện kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu. - Nâng cáo kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng.
- Bổ sung tƣ liệu cho học tập b. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng quản lý chất thải rắn ở Moshav Ein Yahav. - Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đápứng nhu cầu về chất lƣợng môi trƣờng tại Moshav. - Làm căn cứ để các cơ quan chức năng tăng cƣờng tuyên truyền giáo dục nhận thức của ngƣời dân về môi trƣờng.
4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Hiện trạng rác thải của thế giới và Israel 2. Hiện trạng rác thải trên thế giới Với lƣợng rác gom góp đƣợc trên toàn thế giới từ 2,5 đến 4 tỉ tấn một năm, thế giới hiện có lƣợng rác ngang bằng với sản lƣợng ngũ cốc (đạt 2 tấn)và sắt thép (1 tỉ tấn), khẳng định của Viện nguyên vật liệu Cyclope và VeoliaPropreté, công ty quản lý rác lớn thứ hai thế giới. Theo các chuyên viênnghiên cứu của hai cơ quan trên, trong tổng số rác trên thế giới, có 1,2 tỉ tấn rác tập trung ở vùng đô thị, từ 1,1 đến 1,8 tỉ tấn rác công nghiêp không nguy hiểm và 150 triệu tấn rác nguy hiểm (mức tính toán thực hiện tại 30 nƣớc).
Mỹ và châu Âu là hai"nhà sản xuất" rác đô thị chủ yếu với hơn 200 triệutấn rác cho mỗi khu vực, kế tiếp là Trung Quốc với hơn 170 triệu tấn. Theoƣớc tính, tỉ lệ rác đô thị ở Mỹ ở mức 700 kg/ngƣời/năm. Và tỷ lệ này ở HànQuốc gần 2000 kg. Brazil là 20 kg.
Đối với rác công nghiệp, Mỹ chiếmkhoảng 275 triệu tấn. Ngày 6/6/2016, Ngân hàng Thế giới (WB) đã cảnh báo về một cuộckhủng hoảng rác thải đang ngày càng nghiêm trọng và tạo gánh nặng khổnglồvề tài chính cũng nhƣ môi trƣờng cho chính phủ các nƣớc. Trong báo cáo"Đánh giá toàn cầu về quản lý rác thải rắn," WB nhận định khối lƣợng rácthải ngày càng lớn của cƣ dân đô thị đang là một thách thức lớn không kémgìtình trạng biến đổi khí hậu, và chi phí xử lý rác thải sẽ là gánh nặng đối vớicác quốc gia nghèo khó, đặc biệt là ở châu Phi. Các chuyên gia WB ƣớc tínhđến năm 2025, tổng khối lƣợng rác cƣ dân thành thị thải ra sẽ là 2,2 tỷtấn/năm - tăng 70% so với mức 1,3 tỷ tấn hiện nay, trong khi chi phí 5 xử lý rácthải rắn dự kiến lên tới 375 tỷ USD/năm, so với mức 205 tỷ USD ở thời điểmhiện tại.
Theo WB, những số liệu này cần đƣợc nhìn nhận nhƣ hồi chuông cảnhtỉnh về một cuộc khủng hoảng rác thải trong tƣơng lai, trong bối cảnh chấtlƣợng cuộc sống đô thị đang ngày một đƣợc cải thiện và tình trạng bùng nổdân số giatăng. Các chuyên gia của WB kêu gọi các nhà hoạch định chính sách trên thếgiới đƣa ra các kế hoạch xử lý và tái chế rác thải nhằm hạn chế các khí gâyhiệu ứng nhà kính, đồng thời tăng cƣờng xử lý chất thải rắn, đặc biệt là ở cácthành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh và các quốc gia thu nhập thấp. Tại Mumbai, thành phố 12 triệu dân ở Ấn Độ, các bãi chôn rác thƣờngxuyên quá tải, trong khi Jakarta (Indonesia), với 10,3 triệu dân, lại đau đầuvới những dòng sông rác. Năm ngoái, thủ đô Bangkok của Thái Lan (có 9,3triệu ngƣời) bị bao phủ bởi sƣơng khói trong nhiều tuần lễ khi các bãi chônrác ở thành phố này bắt lửa.
Hiện trạng rác thải ở Israel Dân số ngày càng giàu có của Israel đã tạo ra lƣợng rác thải ngày càng tăng, dẫn đến những thay đổi trong mọi thứ từ lƣợng rác trung bình đến mức chúng ta bỏ rác tái chế của chúng ta ra sao. Thay vì hơn 95 phần trăm chất thải rắn của Israel bị chôn vùi trong các bãi chôn rác, bị đốt cháy trong các hố lộ thiên hoặc để lại trong các bãi rác thải trong cả nƣớc. Điều này trái ngƣợc với Thụy Sĩ chỉ chôn vùi 12 phần trăm rác thải của họ hoặc Nhật Bản, chôn vùi 19 phần trăm. Tái chế ở Israel tối thiểu đến mức khó mà đề cập đến.
Điều này không phải do, nhƣ một số ngƣời tƣởng tƣợng, do thiếu sự sẵn lòng của công chúng tham gia vào việc tái chế; trên thực tế, khi các dự án thí điểm đã đƣợc thành lập nhƣ ở Tivon và Yavne, sự tham gia của công chúng đã thành công tràn ngập, và một hệ thống mới để thu thập chai nƣớc giải khát bằng nhựa ngày càng hiệu quả ở các thị trấn lớn. 6 Các bãi rác thải mở tạo ra nhiều hiểm hoạ môi trƣờng. Ngoài các cân nhắc về mặt thẩm mỹ, chúng còn đóng góp một lƣợng lớn chất độc và các hạt bụi cho sự ô nhiễm không khí; chúng bao gồm một mối nguy hiểm sức khoẻ do con ruồi, chuột và muỗi gây nên, và chúng làm ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm. Khi nằm, nhƣ Hiriya, bãi đổ chính của Tel Aviv cho đến hai năm trƣớc, gần sân bay lớn, hàng triệu con mòng biển, chim hót và chim khác là mối đe dọa lớn đối với máy bay và các khoản tiền lớn đã đƣợc dùng để cố gắng giữ những con chim xa khỏi đƣờng băng.
Cho đến tháng 6 năm 2015, có ít nhất một tá thuốc trừ sâu đang đƣợc sử dụng ở Israel bị cấm ở hầu hết các nƣớc phƣơng tây. Do Israel xuất khẩu nhiều loại trái cây, rau quả và pho mát nên các nỗ lực thực hiện để giữ mức thuốc trừ sâu thấp nhất vì ngƣời trồng và ngƣời sản xuất biết rằng thực phẩm vƣợt quá các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Châu Âu sẽ đƣợc trả lại. Điều này một cách nào đó bảo vệ ngƣời tiêu dùng Israel khỏi dƣ lƣợng thuốc trừ sâu quá mức trong thực phẩm, nhƣng không phải trong mọi trƣờng hợp. Bất cứ khi nào thực phẩm đƣợc trả lại vì lý do này, chúng thƣờng đƣợc chuyển hƣớng sang thị trƣờng Do Thái vì các tiêu chuẩn ít nghiêm ngặt hơn và vì không có hệ thống giám sát đầy đủ.