MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Nguyên Bình là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Cao Bằng có điều kiện thiên nhiên trù phú, khí hậu mát mẻ, đất đai tươi tốt. Tận dụng lợi thế đó, những năm qua người dân nơi đây tích cực trồng chè, phát triển thành cây trồng mũi nhọn giúp xóa đói giảm nghèo. Nhận thấy tiềm năng tại vùng đất này, từ số ít hộ trồng chè ban đầu, đến nay cây chè dần được nhân rộng ra cả xóm Phia Đén với hơn 30 hộ tham gia và xem đây là cây trồng mũi nhọn để xóa đói giảm nghèo. Đặc biệt, để tận dụng nguồn lực sẵn có, tăng hiệu quả sản xuất và hỗ trợ cho bà con, năm 2011, Công ty TNHH Miền Tây đã đầu tư xây dựng nhà xưởng, cùng nhân dân cải tạo đất trống đồi trọc, vận động người dân quanh vùng trồng các giống chè như: Ô long, Phúc vân tiên, Hồng trà, Kim tuyên.
để cung cấp cho công ty. Hiện nay, công ty xây dựng hệ thống nhà xưởng sản xuất chè tại chỗ, thực hiện cấp giống, phân bón, hướng dẫn kĩ thuật cho nhân dân. Cùng với sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, cũng như hiểu rõ thế mạnh của địa phương, những năm qua huyện Nguyên Bình cũng luôn tạo điều kiện hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, nhân rộng diện tích trồng chè. Bên cạnh đó huyện cũng phối hợp với doanh nghiệp hỗ trợ, đào tạo kỹ thuật trồng chè, góp phần đưa sản phẩm chè Phia Đén thành sản vật mang thương hiệu của địa phương.
Có thể thấy, trồng và phát triển diện tích trồng chè đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân vùng núi cao Phia Đén. Hiê ̣n ta ̣i Công ty Xây dựng Miề n Tây đas̃ ửdụng phân hữu cơ vi sinh chế biế n từ phu ̣ phẩ m nông nghiê ̣p là bã cây dong riề ng trongcanhtáccâychèlàmộthướngđiđúngđắn,hướngtớimộtnềnnôngnghiệphữucơ ,sinhtháibềnvữngvàthânthiệnvớimôitrường.Tuynhiên,trênthựctế,việcsửdụng n 2 phế phu ̣ phẩ m bón cho cây chè của công ty chưa đươ ̣c tiń h toán cu ̣ thể về mức bón và số lầ n bón hơ ̣p lý để cây chè có khả năng sinh trưởng tố t , cho năng suấ t cao và ổ n đinh. ̣ Xuất phát từ thực tế trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suấ tgiống chè Kim Tuyên tại công ty Xây dựng miền Tây, thôn Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” 1. Mục đích nghiên cƣ́u.
- Xác định đư ợc ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh đế n sinh trưởng và năng suấ t của giố ng chè Kim Tuyên. Ý nghĩa – yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh đế n sinh trưởng của cây chè - Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh đế n năng suấ t của cây chè - Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh đế n mức đô ̣ nhiễm sâu bê ̣nh của cây chè 1. Ýnghĩakhoahọcvàthựctiễn - Ýnghĩakhoahọc Cáckếtquảnghiêncứucủađềtàihướngđếnsựpháttriểnbềnvững và gópphầnnângcao năng suấ t chè của Công ty. -Ýnghĩathựctiễn Đề tài có thể được coi là cơ sở để từ đó có những định hướng cho việc sử dụng phân vi sinh chế biế n từ phu ̣ phẩ m nông nghiê ̣p cho cây chè vào thực tiễn sản xuất.
Từ đó, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, cũng như góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè tại công ty Xây dựng miền Tây, thôn Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng n 3 PHẦN2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Tình hình sản xuất trên thế giới và tiêu thụ chè ở Việt Nam. Tình hình sản xuất chè trên thế giới. Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm). Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến đa dạng và phong phú.
Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với cả nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo. (Lê Tất Khương và cs, 1990)[5] Hiện nay, hàng tỷ người trên Thế Giới đã sử dụng chè làm thứ nước uống hàng ngày, ngay cả nước Tây Âu thì số người chuyển từ uống cà phê sang trà ngày càng nhiều. Đỗ Ngọc Quỹ [2], quốc gia đầu tiên trên Thế Giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm 805 sau Công Nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, vào Malaixia năm 1914, đến năm 1920 thì tiến tới các nước Châu Phi như: Kenia, Malavi, Ghine,. Trên Thế Giới cây chè được phát triển với tốc độ rất nhanh, đặc biệt là từ đầu thế kỷ 18 trở lại đây.
Đến năm 2000, đã có hơn 100 nước trồng và xuất khẩu chè. Sản lượng chè Thế Giới năm 2000 đạt hơn 2,8 triệu tấn. Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước trồng chè lớn nhất (chiếm hơn nửa tổng sản lượng) và cũng là hai nước tiêu thụ chè lớn nhất Thế Giới. Chè được xuất khẩu trên Thế Giới dưới hai dạng chính là chè đen và chè xanh, trong đó, chè đen chiếm phần lớn lượng chè xuất khẩu (84%).
Shrilanka và Kenya là hai nước xuất khẩu chè đen lớn nhất, chiếm 27,88% và 20,63% thị phần xuất khẩu. Các nước Liên Xô cũ là thị trường nhập khẩu chè đen lớn nhất, chiếm 22%, tiếp theo là Anh (13%), Parkistan (11%) và Mỹ (8%). Không như chè n 4 đen, chè xanh được sản xuất ít hơn (chiếm 25% tổng sản lượng) và chủ yếu được tiêu thụ nội địa. Trung Quốc, Nhật Bản là các nước sản xuất và tiêu thụ chính.
Các nước xuất khẩu chè xanh lớn nhất gồm có Trung Quốc (83,4%), Việt Nam (10,16%) và Inđônêsia (4,28%). Chè xanh được xuất khẩu nhiều nhất sang Morocco (18,7%). Theo FAO (2014) thì tình hình sản xuất chè tính đến năm 2013 như sau: Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nƣớc trồng chè chính năm 2009 – 2013 (Đơn vị:ha) Năm Nƣớc 2009 2010 2011 2012 2013 Trung Quốc 1. Như vậy, tính đến năm 2013 diện tích chè thế giới đạt 3.775 ha tương đương với 13,9% so với năm 2009.
Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích là 1.627 ha so với năm 2009 chiếm 50,08% diện tích chè toàn thế giới. Ấn Độ là nước đứng thứ 2 với diện tích là 563. Diện tích chè Việt Nam đạt 121.249 ha so với năm 2009.2: Năng suất chè của thế giới và một số nƣớc trồng chè chính năm 2009 – 2013 (Đơn vị: Tạ chè khô/ha) Năm Nƣớc 2009 2010 2011 2012 2013 Trung Quốc 10.3 cho thấy năng suất chè của thế giới ở mức khá ổn định. Trong đó Kenya là nước có năng suất chè cao nhất 21,771 tạ khô/ha, vượt quá năng suất bình quân của thế giới 48,87%.
Ấn Độ là nước đứng thứ 2 có năng suất chè là 21.433 tạ khô/ha, Mianma là nước có năng suất chè thấp nhất 3.967 tạ khô/ha bằng 27,12% năng suất chè trung bình toàn thế giới. Trong đó Việt Nam tính đến năm 2013 đạt năng suất là 17.616 tạ khô/ha.3: Sản lƣợng của thế giới và một số nƣớc trồng chè chính năm 2009 – 2013 (Đơn vị: Tấn) Năm Nƣớc 2009 2010 2011 2012 2013 Trung Quốc 1.4 cho thấy sản lượng chè trên thế giới năm 2013 là 5.798 tấn so với năm 2009. Trung Quốc là nước có sản lượng chè lớn nhất thế giới đạt 1.457 tấn chiếm 36,28% tổng sản lượng thế giới. Sản lượng chè thấp nhất là nước Mianma đạt 31.700 tấn chiếm 0,59% tổng sản lượng chè thế giới.
Việt Nam đạt sản lượng 214.300 tấn chiếm 4,01 % tổng sản lượng chè thế giới. Tình hình tiêu thụ chè trên Thế Giới Năm 2007 chè đen tiêu thụ trên thế giới ước đạt 2,67 triệu tấn, tăng trung bình hàng năm là 2,8%. Trong đó mức tăng chủ yếu ở các nước phát triển đạt 1,95 triệu tấn tăng 3%. Tiêu thụ chè đen của các nước phát triển cũng đạt mức tăng hàng năm là 2% đạt 719.
Đặc biệt tiêu thụ chè đen của Ấn Độ tiếp tục tăng khá mạnh đạt 832.000 tấn tính trung bình 3,2% (theo FAO Satistic tation 2006)[9]. Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê, các nước tiêu thụ chè hàng năm thường phải nhập khẩu chè bao gồm 115 nước 34 nước Châu Phi, 29 nước Châu Á, 28 nước Châu Âu, 19 nước Châu Mỹ, 5 nước Châu Đại Dương. Năm 2008 tổng kim ngạch của 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất Thế Giới đạt 2,18 tỷ đô la mỹ chiếm 50% tổng kim ngạch nhập khẩu chè toàn Thế Giới. So với cũng kỳ năm 2007 kim ngạch chè các nước này tăng trung bình 16,89%.
Nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất năm 2008 là Nga (510,6 triệu đô la), Anh (364 triệu đô la), Mỹ (318,5 triệu đô la), Nhật Bản (182,1 triệu đô la) và Đức (181,4 triệu đô la). Trong khi đó tổng kim ngạch của 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất Thế Giới đạt 3,5 tỷ đô la mỹ tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2007. Danh sách các nước trong bảng xếp hạng 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất Thế Giới năm 2008 không có nhiều thay đổi so với năm 2007 với 3 nước dẫn đầu là Srilanka (đạt 1,2 tỷ đô la), Trung Quốc (682,3 triệu đô la) và Ấn Độ (501,3 triệu đô la). Sản lượng chè của Kenya nước xuất khẩu chè đen lớn nhất Thế Giới đã giảm 9% xuống còn 278 triệu kg trong 11 tháng đầu năm 2009.
Srilanka nước xuất khẩu chè lớn nhất thứ 4 trên Thế Giới đã sản xuất 263,8 triệu kg chè trong 11 tháng đầu năm 2009 cũng giảm 12% so với cùng kỳ năm trước đó. Theo thống kê chính thức trong giai đoạn tháng 1 – 9 năm 2009, sản lượng chè thế giới đạt 1275.5 triệu kg, giảm khoảng n 8 89 triệu kg so với cùng kỳ năm ngoái. Theo dự báo của Hội đồng Chè Kenya, sản lượng chè của nước này cả năm 2011 sẽ sụt giảm 9% so với năm 2010, đạt mức 365 triệu kg. Kenya xuất khẩu 221,7 triệu kg chè, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường chè xuất khẩu của nước này trong những tháng vừa qua đã được mở rộng tới 40 nước và vũng lãnh thổ. Pakistan hiện vẫn đang là nước nhập khẩu chè lớn nhất của Kenya với sản lượng nhập khẩu 40,1 triệu kg, chiếm 18% tổng lượng chè xuất khẩu của cả nước.Tiếp đó là Ai Cập với 36,9 triệu kg. Mặc dù sản lượng chè xuất khẩu cả năm 2011 của Kenya giảm nhưng do nhu cầu tiêu tiêu thụ chè thế giới tăng cao dẫn tới giá xuất khẩu của mặt hàng này có nhiều thuận lợi trong thời gian vừa qua.