Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây chè (Camellia sinensis) đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại các vùng trung du và miền núi Việt Nam. Tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng – khu vực có địa hình núi cao, khí hậu mát mẻ quanh năm và đất đai màu mỡ – cây chè được xác định là cây trồng mũi nhọn hỗ trợ công tác giảm nghèo và phát triển kinh tế địa phương. Năm 2011, Công ty TNHH Xây dựng Miền Tây (doanh nghiệp thành lập công ty con KoLia từ năm 2010 chuyên về nông nghiệp hữu cơ tại địa bàn) đã đầu tư cơ sở hạ tầng, liên kết với hơn 30 hộ dân tại xóm Phia Đén để phát triển vùng nguyên liệu chè với các giống chất lượng cao như Ô long, Phúc Vân Tiên, Bát Tiên, PH8, Thanh Tâm và Kim Tuyên.

Trong quá trình canh tác, công ty đã chủ động tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ là bã cây dong riềng ủ hoai mục để phối trộn thành phân bón hữu cơ vi sinh (HCVS). Đây là định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái tuần hoàn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng nguồn phế phụ phẩm này vẫn chưa được xác lập định mức khoa học về liều lượng bón và số lần bón tối ưu nhằm giúp cây chè sinh trưởng tốt, đạt năng suất cao và duy trì tính ổn định qua các chu kỳ thu hoạch.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, tác giả Quan Trung Chuyển đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa học cây trồng với đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suấ t giống chè Kim Tuyên tại công ty Xây dựng miền Tây, thôn Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng" dưới sự hướng dẫn của Th.S Hoàng Kim Diệu (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2017).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu chung của đề tài là xác định được ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh chế biến từ bã dong riềng đến khả năng sinh trưởng, năng suất và mức độ phát sinh sâu bệnh hại của giống chè Kim Tuyên tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đưa ra cơ sở khoa học và khuyến cáo lượng bón phù hợp cho sản xuất.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng của cây chè (chiều cao cây, độ rộng tán, đường kính thân).
  2. Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng nguyên liệu của cây chè (chiều dài búp, khối lượng búp, mật độ búp, tỷ lệ búp mù xòe).
  3. Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh đến mức độ nhiễm một số loài sâu bệnh hại chính trên giống chè Kim Tuyên (rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống chè Kim Tuyên ở giai đoạn kinh doanh (tuổi 5) và phân bón hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm bã dong riềng ủ hoai mục.
  • Phạm vi không gian: Vườn chè sản xuất của Công ty Xây dựng Miền Tây, thôn Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian: Thí nghiệm và theo dõi đồng ruộng được triển khai từ tháng 01/2017 đến tháng 05/2017 (thực hiện bón phân vào đầu tháng 02/2017 và theo dõi 1 lứa hái chè chính vụ xuân).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp thực nghiệm

Cơ sở lý thuyết và căn cứ khoa học

Khóa luận dựa trên lý thuyết về dinh dưỡng khoáng cây trồng, kỹ thuật canh tác cây công nghiệp dài ngày và các nguyên lý nông nghiệp hữu cơ bền vững. Phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phế phụ phẩm thực vật có vai trò cải tạo độ phì nhiêu của đất, tăng cường khả năng giữ nước, bổ sung hệ vi sinh vật có ích và giải phóng dinh dưỡng từ từ giúp bộ rễ cây chè hấp thu ổn định. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các tài liệu tổng quan ngành chè của FAO, số liệu của Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS), Trung tâm Tin học và Thống kê (Bộ NN&PTNT), giáo trình Cây công nghiệp, Cây chè của các trường đại học chuyên ngành và số liệu khí tượng thủy văn của huyện Nguyên Bình (nhiệt độ trung bình 20°C, lượng mưa trung bình 1.670 mm, độ ẩm không khí 82%).

Phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa

Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Complete Block Design) với 4 công thức và 3 lần nhắc lại (Block I, II, III).

  • Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 40 m²
  • Tổng diện tích toàn khu thí nghiệm: 480 m² (12 ô thí nghiệm)
  • Nền phân vô cơ bón chung cho tất cả các công thức: 300 kg N + 160 kg P₂O₅ + 200 kg K₂O / ha.

Các công thức thí nghiệm cụ thể:

  • Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): 10 tấn HCVS/ha + Nền vô cơ
  • Công thức 2 (CT2): 15 tấn HCVS/ha + Nền vô cơ
  • Công thức 3 (CT3): 20 tấn HCVS/ha + Nền vô cơ
  • Công thức 4 (CT4): 25 tấn HCVS/ha + Nền vô cơ

Quy trình bón phân: Bón vào đầu tháng 02/2017. Tiến hành đào rãnh sâu và rộng khoảng 20–30 cm, cách gốc chè từ 30–40 cm theo hình chiếu mép tán, rải đều phân hữu cơ vi sinh và phân khoáng rồi lấp đất giữ ẩm.

Phương pháp theo dõi và thu thập số liệu

  1. Các chỉ tiêu sinh trưởng: Trên mỗi ô thí nghiệm chọn cố định 3 vị trí đại diện có đánh dấu để theo dõi vào 2 thời điểm (trước khi xử lý thí nghiệm và sau khi kết thúc thu hoạch lứa chè).

    • Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất sát gốc đến đỉnh sinh trưởng cao nhất của tán.
    • Độ rộng tán (cm): Đo khoảng cách lớn nhất của tán cây theo hai chiều vuông góc.
    • Đường kính thân (cm): Đo cách cổ rễ 5–10 cm (hoặc cách cổ rễ cành to nhất 5–6 cm) bằng thước kẹp panme.
  2. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:

    • Mật độ búp (búp/m²): Sử dụng khung gỗ tiêu chuẩn kích thước 25 cm x 25 cm đặt ngẫu nhiên tại 5 điểm trên mặt tán ô thí nghiệm, đếm toàn bộ vết búp hái được và quy đổi ra 1 m².
    • Khối lượng búp (gam/búp): Lấy ngẫu nhiên mẫu 100 gam búp chè tươi (chuẩn 1 tôm 2 lá), đếm số lượng búp trong mẫu và tính theo công thức: $$\text{Khối lượng 1 búp (g)} = \frac{100}{\text{Tổng số búp trong 100g}}$$
    • Tỷ lệ búp mù xòe (%): Đếm số búp mù xòe từ mẫu thu hoạch trong khung tiêu chuẩn, tính bằng: $$\text{Tỷ lệ búp mù xòe (%)} = \frac{\text{Số búp mù xòe}}{\text{Tổng số búp}} \times 100$$
    • Năng suất cá thể và năng suất thực thu: Thu hoạch toàn bộ búp chè đạt tiêu chuẩn trên diện tích 40 m² của từng ô theo lứa hái sản xuất, cân khối lượng tươi và quy đổi ra đơn vị tấn tươi/ha/lứa.
  3. Phương pháp điều tra sâu bệnh hại:

    • Rầy xanh (Empoasca sp.): Chọn 5 điểm chéo góc/ô, mỗi điểm điều tra 5 khay nhôm (35 cm x 25 cm x 5 cm tráng dầu hỏa), đặt nghiêng 45° ở rìa tán, đập mạnh tán lá 3 lần và đếm số lượng rầy dính vào khay (tính số con/khay).
    • Bọ cánh tơ (Physothrips setiventris): Chọn 5 điểm chéo góc/ô, hái ngẫu nhiên 25 búp non (1 tôm 2–3 lá)/điểm cho vào túi ni-lông mang về phòng thí nghiệm đếm cá thể dưới kính lúp (tính số con/búp).
    • Bọ xít muỗi (Helopeltis theivora): Điều tra 5 điểm chéo góc, thu thập 25 búp/điểm, đếm số búp có vết chích hút hại búp và tính tỷ lệ % búp bị hại.

Phương pháp xử lý số liệu

Toàn bộ dữ liệu thu thập ngoài đồng ruộng được nhập liệu và tính toán sơ bộ trên Microsoft Excel. Phân tích phương sai thống kê sinh học (ANOVA), kiểm định sai khác có ý nghĩa giữa các trung bình nghiệm thức theo chuẩn LSD₀.₀₅ (Least Significant Difference ở mức ý nghĩa 5%) và xác định hệ số biến động (CV%) được thực hiện thông qua phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 5.0.


Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong việc khai thác tiềm năng cây chè tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng; thực trạng sản xuất và nhu cầu sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm bã dong riềng tại Công ty Xây dựng Miền Tây. Xác định mục đích, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình bón phân hữu cơ sinh thái.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới: Tổng thuật lịch sử phát triển cây chè; số liệu diện tích, năng suất, sản lượng chè toàn cầu giai đoạn 2009–2013 của FAO (diện tích thế giới năm 2013 đạt 3.775 nghìn ha; Trung Quốc dẫn đầu diện tích với 1.627 nghìn ha; Kenya đạt năng suất cao nhất với 21,771 tạ khô/ha; sản lượng toàn cầu đạt 5.798 nghìn tấn). Phân tích cán cân thương mại chè đen, chè xanh tại các thị trường nhập khẩu lớn (Nga, Anh, Mỹ, Pakistan).
  • Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại Việt Nam: Khái quát các giai đoạn phát triển từ 1890 đến nay; thống kê diện tích chè Việt Nam tăng từ 107,4 nghìn ha (năm 2007) lên 121,649 nghìn ha (năm 2013), sản lượng đạt 214,3 nghìn tấn búp khô; phân tích tình hình xuất khẩu chè sang các thị trường Đài Loan, Pakistan, Nga và vấn đề xây dựng thương hiệu CHEVIET.
  • Tình hình hoạt động sản xuất của Công ty Xây dựng Miền Tây (và công ty con KoLia): Giới thiệu điều kiện tự nhiên tại Phia Đén; cơ cấu giống chè trồng mới giai đoạn 2013–2016 (Phúc Vân Tiên 7,6 ha; Kim Tuyên 5,7 ha; Thanh Tâm 3,6 ha; PH8 3,1 ha); năng suất bình quân toàn công ty tăng từ 7,03 tấn/ha (năm 2014) lên 10,66 tấn/ha (năm 2016); tổng sản lượng chè Kim Tuyên giai đoạn 2014–2016 đạt cao nhất với 65,14 tấn.

Phần 3: Nội dung và phương pháp thực hiện

Mô tả chi tiết vật liệu nghiên cứu (giống chè Kim Tuyên 5 tuổi, phân HCVS bã dong riềng), địa điểm, thời gian thực hiện (01–05/2017), bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên RCBD 4 công thức x 3 lần nhắc lại, diện tích 480 m², quy trình bón phân rãnh mép tán, cùng các phương pháp đo đếm chỉ tiêu sinh trưởng, cấu thành năng suất, mật độ sâu hại và phần mềm xử lý thống kê IRRISTAT 5.0.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Trình bày và thảo luận toàn diện các số liệu thực nghiệm thu được từ 4 công thức thí nghiệm:

  • Đánh giá sự biến động về chiều cao cây (78,1 – 82,4 cm), độ rộng tán (69,7 – 75,3 cm) và đường kính thân (2,10 – 2,17 cm) dưới tác động của các mức phân bón.
  • Phân tích các yếu tố cấu thành năng suất gồm chiều dài búp (4,19 – 4,90 cm), khối lượng búp (0,62 – 0,77 g/búp), mật độ búp (175,00 – 222,46 búp/m²), năng suất 1 lứa hái (0,72 – 0,98 tấn/ha) và tỷ lệ búp mù xòe (16,23 – 17,29%).
  • Đánh giá diễn biến của 3 đối tượng sâu bệnh hại chính (bọ cánh tơ, rầy xanh, bọ xít muỗi) tương ứng với từng mức độ phân bón hữu cơ.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra các kết luận cụ thể về mức độ đáp ứng của cây chè đối với liều lượng phân bón HCVS từ 20 đến 25 tấn/ha; đề xuất áp dụng vào sản xuất tại công ty để tận dụng bã dong riềng giá rẻ, bảo vệ môi trường và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo qua các lứa hái phụ.


Kết quả và đóng góp

Dữ liệu thực nghiệm chính

Khóa luận đã ghi nhận và xử lý thống kê đầy đủ các chỉ tiêu theo dõi đồng ruộng của giống chè Kim Tuyên:

1. Các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá

Tăng mức phân bón hữu cơ vi sinh có tác động kích thích rõ rệt đến chiều cao và tán lá của cây chè Kim Tuyên ở mức tin cậy 95% ($P < 0,05$):

Công thức Liều lượng phân HCVS Chiều cao cây (cm) Độ rộng tán (cm) Đường kính thân (cm)
CT1 (Đ/C) 10 tấn/ha + nền 78,1 69,7 2,10
CT2 15 tấn/ha + nền 79,1 71,2 2,11
CT3 20 tấn/ha + nền 80,3 71,8 2,16
CT4 25 tấn/ha + nền 82,4 75,3 2,17
Sai số / Kiểm định $LSD_{0.05} = 0,33$ $LSD_{0.05} = 1,44$ $LSD_{0.05} = 0,04$
$CV% = 0,3%$ $CV% = 1,3%$ $CV% = 1,4%$

Nhận xét: Chiều cao cây ở CT4 đạt cao nhất (82,4 cm), cao hơn đối chứng CT1 là 4,3 cm có ý nghĩa thống kê. Độ rộng tán cây ở CT4 đạt 75,3 cm, vượt đối chứng 5,6 cm. Đối với đường kính thân, sự biến động từ 2,10 cm đến 2,17 cm ít chịu ảnh hưởng bởi lượng phân bón trong thời gian ngắn của thí nghiệm.

2. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng búp

Công thức Chiều dài búp (cm) Khối lượng búp (g/búp) Mật độ búp (búp/m²) Năng suất 1 lứa (tấn/ha) Tỷ lệ búp mù (%)
CT1 (Đ/C) 4,19 0,62 175,00 0,72 16,94
CT2 4,58 0,77 177,46 0,75 17,29
CT3 4,90 0,75 210,60 0,80 17,09
CT4 4,80 0,76 222,46 0,98 16,23
Mức ý nghĩa ($P$) $P > 0,05$ $P > 0,05$ $P > 0,05$ $P > 0,05$ $P > 0,05$
Hệ số biến động ($CV%$) 13,5% 11,3% 4,0% 4,5% 12,15%

Nhận xét: Các chỉ tiêu năng suất cá thể và năng suất thực thu đều có xu hướng tăng dần theo lượng bón phân HCVS (năng suất lứa xuân tăng từ 0,72 tấn/ha ở CT1 lên 0,98 tấn/ha ở CT4; mật độ búp tăng từ 175,00 búp/m² lên 222,46 búp/m²). Tuy nhiên, kết quả phân tích phương sai ANOVA cho thấy sự sai khác giữa các công thức ở lứa hái này chưa đạt mức ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$). Tỷ lệ búp mù xòe dao động ở mức thấp và tương đương giữa các công thức (16,23% – 17,29%), đảm bảo phẩm chất nguyên liệu tốt.

3. Thành phần và mức độ phát sinh sâu bệnh hại chính

Công thức Liều lượng phân HCVS Bọ cánh tơ (% búp bị hại) Rầy xanh (số con/tổng búp điều tra) Bọ xít muỗi (% búp bị hại)
CT1 (Đ/C) 10 tấn/ha + nền 1,6 6/20 2,3
CT2 15 tấn/ha + nền 2,6 7/20 2,3
CT3 20 tấn/ha + nền 3,6 7/20 3,3
CT4 25 tấn/ha + nền 3,6 9/20 4,0

Nhận xét: Khi bón liều lượng phân hữu cơ vi sinh cao hơn (CT3 và CT4), cây chè sinh trưởng thân lá mạnh, mô lá và búp non phát triển thuận lợi cho các loài côn trùng chích hút phát sinh. Tỷ lệ hại của bọ cánh tơ tăng từ 1,6% (CT1) lên 3,6% (CT3, CT4); rầy xanh tăng từ 6 con lên 9 con trên tổng số khay/búp điều tra; tỷ lệ búp bị bọ xít muỗi chích hút tăng từ 2,3% lên 4,0%.

Giải pháp và khuyến nghị của tác giả

  • Mức bón khuyến nghị: Đề xuất Công ty Xây dựng Miền Tây nên áp dụng mức bón phân hữu cơ vi sinh bã dong riềng từ 20 đến 25 tấn/ha (tương ứng với CT3 và CT4) trên nền phân khoáng cân đối ($300\text{N} + 160\text{P}_2\text{O}_5 + 200\text{K}_2\text{O}$). Mức bón này giúp cây chè sinh trưởng tán lá vượt trội, đạt năng suất thực thu cao nhất trong lứa hái.
  • Hiệu quả kinh tế và môi trường: Việc tận dụng phế phụ phẩm bã dong riềng sẵn có tại địa phương giúp hạ giá thành phân bón đầu vào so với việc mua các loại phân hữu cơ thương phẩm từ ngoài tỉnh, đồng thời góp phần làm sạch môi trường sản xuất nông nghiệp tại vùng Phia Đén.

Đóng góp của đề tài

Đề tài cung cấp dẫn liệu thực nghiệm ban đầu có hệ thống về phản ứng sinh trưởng và năng suất của giống chè nhập nội Kim Tuyên trước nguồn phân hữu cơ tự chế từ bã dong riềng tại tiểu vùng khí hậu đặc thù Phia Đén (Cao Bằng), tạo cơ sở thực tiễn để doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình bón phân cho các diện tích chè kinh doanh.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong phạm vi thời gian ngắn (từ tháng 01 đến tháng 05/2017) và mới chỉ đánh giá kết quả trên 01 lứa hái chính vụ xuân của chu kỳ sản xuất năm 2017. Do đó, các tác động tích lũy dài hạn của phân hữu cơ vi sinh lên tính chất lý hóa của đất và năng suất tổng cả năm (gồm 7–8 lứa hái) chưa được thể hiện trọn vẹn trong các kiểm định thống kê.

Tác giả đã nêu 2 hướng nghiên cứu tiếp theo:

  1. Tiếp tục bố trí theo dõi thí nghiệm qua toàn bộ các lứa hái chè tiếp theo trong năm (vụ hè, thu) và các năm tiếp theo để đánh giá chính xác, đầy đủ hơn về hiệu quả tăng năng suất tổng thể và độ bền của tán chè.
  2. Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chứng giữa phân hữu cơ vi sinh chế biến từ bã dong riềng với các chủng loại phân hữu cơ vi sinh công nghiệp thương phẩm khác hiện có trên thị trường, từ đó hoàn thiện quy trình kỹ thuật bón phân hữu cơ chuẩn cho nông hộ và doanh nghiệp tại vùng chè Cao Bằng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Quản lý đất đai và Nông nghiệp sinh thái: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) trên cây công nghiệp lâu năm; các phương pháp đo đếm chỉ tiêu tán chè, mật độ búp và phương pháp điều tra côn trùng hại chè tiêu chuẩn (dùng khay tráng dầu hỏa, khung gỗ tiêu chuẩn); cách trình bày bảng phân tích ANOVA và xử lý số liệu bằng IRRISTAT.
  • Kỹ sư nông nghiệp và cán bộ kỹ thuật tại các nông trường, doanh nghiệp chè: Tham khảo giải pháp kỹ thuật tái chế bã dong riềng thành phân bón hữu cơ vi sinh tại chỗ nhằm giảm chi phí sản xuất và xây dựng vùng nguyên liệu chè an toàn, hữu cơ.
  • Các nhà nghiên cứu về cây chè tại vùng núi cao phía Bắc: Cung cấp tư liệu thực địa về khả năng sinh trưởng, năng suất và phổ sâu hại của giống chè Kim Tuyên tại tiểu vùng khí hậu Phia Đén (Nguyên Bình, Cao Bằng).

Câu hỏi thường gặp

1. Phân hữu cơ vi sinh dùng trong thí nghiệm được sản xuất từ nguồn nguyên liệu nào?

Phân hữu cơ vi sinh trong nghiên cứu được chế biến từ nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp sẵn có tại địa phương là bã cây dong riềng, được thu gom và ủ hoai mục kết hợp chế phẩm vi sinh vật trước khi đem bón cho vườn chè.

2. Liều lượng và công thức bón phân nào cho kết quả sinh trưởng thân lá tốt nhất?

Công thức 4 (bón 25 tấn phân hữu cơ vi sinh/ha trên nền phân vô cơ 300N + 160P₂O₅ + 200K₂O) cho kết quả sinh trưởng tốt nhất với chiều cao cây đạt 82,4 cm (cao hơn đối chứng 4,3 cm) và độ rộng tán đạt 75,3 cm (vượt đối chứng 5,6 cm), có sai khác tin cậy ở mức $P < 0,05$.

3. Năng suất thu hoạch của các công thức thí nghiệm chênh lệch như thế nào trong lứa hái theo dõi?

Trong 1 lứa hái theo dõi vụ xuân, năng suất tăng dần theo mức phân bón: CT1 đạt 0,72 tấn/ha, CT2 đạt 0,75 tấn/ha, CT3 đạt 0,80 tấn/ha và CT4 đạt 0,98 tấn/ha. Tuy nhiên, ở lứa hái đầu tiên này, mức chênh lệch năng suất và các yếu tố chiều dài búp, khối lượng búp, mật độ búp chưa có sai khác mang ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$).

4. Việc tăng liều lượng phân hữu cơ vi sinh có ảnh hưởng thế nào đến tình hình sâu hại chè?

Khi tăng lượng phân bón hữu cơ vi sinh (mức 20–25 tấn/ha ở CT3 và CT4), búp và lá non sinh trưởng mạnh hơn, dẫn tới mật độ và tỷ lệ gây hại của các loài sâu chích hút tăng nhẹ so với đối chứng: bọ cánh tơ tăng lên 3,6% (đối chứng 1,6%), rầy xanh ghi nhận 9 con/tổng đợt điều tra (đối chứng 6 con), và bọ xít muỗi hại búp tăng lên 4,0% (đối chứng 2,3%).

5. Thí nghiệm được bố trí trên đối tượng giống chè và độ tuổi nào?

Nghiên cứu được triển khai trên giống chè Kim Tuyên 5 tuổi (giai đoạn chè kinh doanh) tại đồn điền chè của Công ty Xây dựng Miền Tây, thuộc thôn Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Quan Trung Chuyển đã xác định được ảnh hưởng tích cực của các mức phân bón hữu cơ vi sinh chế biến từ bã dong riềng đến khả năng sinh trưởng thân lá của giống chè Kim Tuyên 5 tuổi tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Kết quả thực nghiệm chỉ ra mức bón từ 20 đến 25 tấn/ha giúp cây chè phát triển chiều cao và diện tích tán lá tối ưu ($P < 0,05$), đồng thời đạt năng suất thu hoạch lứa xuân cao nhất (0,80 – 0,98 tấn/ha/lứa). Đây là căn cứ khoa học thực tế giúp các cơ sở sản xuất tận dụng hiệu quả nguồn phụ phẩm bã dong riềng tại chỗ, giảm chi phí đầu vào và thúc đẩy canh tác chè theo hướng nông nghiệp hữu cơ bền vững.