CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về biến độc lập – Ngôn ngữ Trên thế giới ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ là vấn đề rất đươc quan tâm nghiên cứu từ rất lâu. Ferdinand de Saussure (1916) đưa ra một số các cặp lưỡng phân để làm ranh giới phân định việc nghiên cứu ngôn ngữ.
Trong các cặp đó có các cặp như: ngôn ngữ và lời nói; nội tại và ngoại vi. Sau đó ông đi đến giới hạn việc nghiên cứu, không quan tâm tới những vấn đề thuộc lời nói và các mặt ngoại vi của ngôn ngữ. Noam Chomsky (1928) đã xây dựng lên một ý tưởng rằng "Loài người học ngôn ngữ không phải bắt đầu từ những hành vi (behavior) (là những phản ứng sự kích thích một cách có định hướng), mà nó dựa trên nhận thức và sự bẩm sinh". Bằng những nỗ lực để chứng minh học thuyết này, ông đã đưa ra một mô hình gọi là Mô hình phân cấp Chomsky.
Mô hình này gồm 4 loại ngôn ngữ và các gắn kết về ngữ pháp (grammar) và máy (machine): - Loại 0: Recursively Enumerable Languages (ngôn ngữ đếm được theo cách đệ quy) - Loại 1: Context-Sensitive Languages (ngôn ngữ phụ thuộc ngữ cảnh) - Loại 2: Context-Free Languages (ngôn ngữ không phụ thuộc ngữ cảnh) - Loại 3: Regular Languages (ngôn ngữ chính quy) 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong tài liệu UNESCO (2002) đã khẳng định: Sự lựa chọn của ngôn ngữ là một thách thức trong quá trình phát triển của chất lượng giáo dục. Những người nói tiếng mẹ đẻ, mà thứ tiếng đó không giống như ngôn ngữ của quốc gia thì thường xuyên gặp những bất lợi đáng kể trong hệ thống giáo dục…. Trong tài liệu của Susan E.Malone (2005) nhấn mạnh kinh nghiệm trong cộng đồng ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở châu Á và trên thế giới cho thấy rằng thực sự, giáo dục đa ngôn ngữ có thể và đang được thực hiện.thông qua các nỗ lực hợp tác của các cơ quan quốc tế, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học, viện nghiên cứu và đặc biệt là cộng đồng thiểu số người dân tộc mình, các chương trình giáo dục đa ngôn ngữ mạnh và bền vững đang trở thành hiện thực. Mặc dù phần nhiều là chưa được thực hiện, nhưng đã bắt đầu được thực hiện.
Các nghiên cứu về biến phụ thuộc – Kết quả học tập Trên thế giới các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng và việc nâng cao KQHT là một trong những vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu. Tác giả Evans (1999) đã chia 5 nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến KQHT của SV: - Đặc trưng nhân khẩu (tuổi, giới tính, ngôn ngữ, nền tảng văn hóa, loại trường, tình trạng kinh tế xã hội, tình trạng giáo dục xã hội, nơi ở…) - Đặc trưng tâm lý (Sự chuẩn bị cho việc học, chiến lược cho học tập cam kết mục tiêu…) - Kết quả học tập trước đây - Nhân tố xã hội - Nhân tố tổ chức 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số nghiên cứu về sự khác biệt về KQHT giữa các nhóm SV được phân theo: giới tính, chủng tộc, sắc tộc, thu nhập nơi thường trú, điểm xếp hạng. Cụ thể: Camara và Schmidt (1999) nhận thấy rằng KQHT có sự phân biệt lớn giữa người Mỹ lai Phi, Mỹ lai châu Á, Mỹ La tinh và da trắng. Bên cạnh khác biệt về chủng tộc và sắc tộc, còn tồn tại sự khác biệt về KQHT giữa các nhóm thu nhập (Stinebricker & ctg, 2001), giới tính (Maldilaras, 2002) và nơi cư trú (Checchi & ctg, 2000).
Nghiên cứu của Checchi & ctg (2000) khảo sát các yếu tố có liên quan đến điểm trung bình của SV trong 5 trường đại học ở Italia, cho thấy rằng: giới tính, tuổi, nơi cư trú, KQHT trung học, loại trường trung học và đặc điểm gia đình có mối quan hệ chặt chẽ với KQHT. Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố này là khác nhau giữa các trường đại học. Tác giả Darling-Hammond (2000) bằng nghiên cứu định tính và định lượng cho thấy đầu tư cho các chính sách phát triển năng lực giảng viên có liên quan chặt chẽ tới sự tiến bộ của trò. Tác giả chỉ ra rằng trường học tạo ra sự khác biệt về sự tiến bộ của học sinh mà phần lớn sự khác biệt đó là do người thầy mang lại.
Le Van Chon (2000) đã chứng minh có sự khác biệt về KQHT của SV nông thôn (thấp hơn) và thành phố ( cao hơn). Một nghiên cứu khác tại Tây Ban Nha của Antonia Lozano Diaz (2003) đã chỉ ra ảnh hưởng của các nhân tố đến KQHT của học sinh đó là: trình độ học vấn của cha mẹ, giới tính, động lực học tập, mối quan hệ giữa các học sinh và với những người khác. Bằng phân tích hồi quy và kiểm định ANOVA, nghiên cứu kết luận: môi trường và động lực học tập có ảnh hưởng đến KQHT còn trình độ học vấn của cha mẹ thì không. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Muhammad Akram Aziz (2010), khi xem xét ảnh hưởng của của các yếu tố nhân khẩu (giới tính, nơi cư trú, quy mô và mức thu nhập của gia đình) và năng lực của giáo viên (việc lập kế hoạch, quá trình giảng dạy, việc quản lý lớp học, kinh nghiệm dạy học và việc đánh giá học sinh) đến KQHT của học sinh trung học đã khẳng định chúng đều có mối liên hệ đáng kể.
Trong đó, quy mô gia đình có mối tương quan âm với KQHT. Những nghiên cứu trên cho thấy, các nhân tố tác động đến KQHT là rất đa dạng. Thực tế các nghiên cứu về nhân tố tác động đến KQHT thường chỉ tập trung vào một hay một vài nhóm nhân tố. Việc tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu của các nghiên cứu nêu trên, giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu ngoài nước đã làm về các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của người học, nhận diện một số yếu tố chính thường tác động đến KQHT như: yếu tố môi trường xã hội và tổ chức; yếu tố cá nhân như: động lực học tập, tâm lý cá nhân, đặc trưng nhân khẩu và yếu tố người dạy.
Tại Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu như: Theo Nguyễn Thị Mai Trang, Nguyễn Đình Thọ, Mai Lê Thúy Vân (2008) nghiên cứu và khẳng định có mối quan hệ chặc chẽ giữa các yếu tố động cơ học tập và năng lực giảng viên với KQHT. Theo Nguyễn Công Khanh (2008) đã tiến hành trắc nghiệm phong cách học của SV. Trong đó, nghiên cứu được thiết kế dựa trên quan niệm xem phong cách học tập của SV là một cấu trúc phức hợp đa mặt, đa thành tố tác động KQHT của SV. Cấu trúc trắc nghiệm này gồm 5 thang đo ( Các chiến lược học- Các phương pháp dạy và học được ưa thích hơn - Khả năng học/năng lực học - Động lực thúc đẩy việc học - Tính kiên trì, quyết tâm đến 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nghiên cứu đã khẳng định các yếu tố này đều có ảnh hưởng mạnh đến KQHT. Võ Thị Tâm (2010) đã nghiên cứu và khẳng định có các ảnh hưởng của các yếu tố thuộc đặc điểm SV (bao gồm: động cơ học tập, cạnh tranh học tập, kiên định học tập, ấn tượng trường học, phương pháp học tập) đến KQHT của SV. Theo Nguyễn Thị Thùy Trang (2010) đã chứng minh có mối tương quan và khảo sát được mức độ ảnh hưởng giữa quan niệm và thói quen học tập với KQHT của SV, ngoài ra nghiên cứu cũng khẳng định cách dạy của giáo viên có ảnh hưởng lớn nhất đến quan niệm và thói quen học tập của SV. Bế Thị Điệp (2012) đã khảo sát và phân tích 3 nhóm nhân tố chính như: nhóm nhân tố cá nhân học sinh, gia đình và nhà trường có tác động đến KQHT của học sinh.
Nghiên cứu đã khẳng định hầu hết các nhân tố thuộc 3 nhóm nhân tố trên (Nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, Bạn học cùng trường, Chính sách học bổng, Uy tín nhà trường, Khối lớp, Sự kích thích từ gia đình , Tính tích cực học tập, Tính kiên trì trong học tập, Mục đích học tập, Dân tộc ) đều có tác động tích cực tới KQHT. Trong đó, chỉ có hai nhân tố: trình độ học vấn của bố mẹ, tình yêu thương của gia đình là có tác động nghịch đến KQHT. Theo Dương Hải Lâm (2012) đã đánh giá thực trạng thái độ nghề nghiệp (về: nhận thức, tình cảm, hành vi) và xác định được mức độ ảnh hưởng của thái độ nghề nghiệp đối với KQHT các môn học chuyên ngành của SV. Nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác biệt về nhận thức nghề nghiệp của SV theo năm học hay có sự thay đổi về nhận thức nghề nghiệp của SV theo thời gian học.
Nghiên cứu này gợi mở cho chúng tôi hướng lựa chọn đối tượng khảo sát cho luận văn của mình từ năm thứ nhất đến năm thứ ba. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Nguyễn Phương Nga và Nguyễn Quý Thanh (2007) đã chứng minh các phẩm chất năng lực của thầy có ảnh hưởng tới KQHT của trò và khẳng định các yếu tố thuộc về giảng viên như: Khả năng dạy học nói chung và trí thông minh; Kiến thức chuyên ngành; Kiến thức về dạy và học; Kinh nghiệm của giảng viên; Bằng cấp; Các hành vi và thực hành của giảng viên có mối tương quan cao với KHQT của SV. Kết quả nghiên cứu đã giúp chúng tôi nhận thấy có mối tương quan giữa NLTH và KQHT trong mối liên hệ và ảnh hưởng của yếu tố người dạy. Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của SV hoặc các nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ.
Các nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề các yếu tố ảnh hưởng thuận hoặc nghịch tới KQHT từ nhiều hướng khác nhau. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu hay tác giả nào tiếp cận riêng về: ảnh hưởng của yếu tố ngôn ngữ đến KQHT của sinh viên các dân tộc ít người. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích bổ sung, hoàn thiện thêm nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới KQHT của SV nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa yếu tố ngôn ngữ với KQHT của SV; nâng cao KQHT của SV và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các nhà trường. Các khái niệm cơ bản 1.