CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu. Quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta trong thời gian qua đã tạo điều kiện ra đời và phát triển mạnh mẽ loại hình công ty cổ phần và sự phát triển của thị trường chứng khoán, đỉnh cao của thị trường tài chính. Trong bối cảnh đó, việc quản trị các công ty còn nhiều vấn đề mới mẻ không chỉ đối với các nhà quản lý công ty, mà còn đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các bên liên quan khác như công chúng đầu tư, các tổ chức tài chính trung gian, các nhà nghiên cứu hàn lâm.
Việc áp dụng các nguyên tắc điều hành công ty vào thực tiễn quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, đối với thị trường chứng khoán ở Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn du nhập và phát triển chậm chạp. Trong khi đó, lịch sử phát triển của công ty cổ phần trên thế giới và khoa học chuyên ngành tài chính doanh nghiệp cho thấy việc tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần một mặt tạo ra tác động tích cực trong việc huy động các nguồn vốn trong xã hội cho các công ty này phát triển hoạt động kinh doanh nhưng mặt khác đã gây ra vấn đề mâu thuẫn về lợi ích của cổ đông và người đại diện (Hội đồng quản trị, Ban điều hành). Tại các nền kinh tế phát triển trên thế giới, các sáng kiến để giải quyết vấn đề này trong hoạt động quản lý công ty cổ phần từ lâu đã hình thành nên các quy tắc quản trị công ty (corporate governance). Các bản quy tắc này đã góp phần tạo ra khung pháp lý, thể chế cho hoạt động điều hành công ty tại các quốc gia này, đồng thời cung cấp các chỉ dẫn và đề xuất cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, các công ty và các bên khác tham gia vào quá trình phát triển hoạt động điều hành công ty.Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm ra trong thực tiễn những yếu tố của quản trị công ty, cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng như thế nào đến thành quả tài chính của công ty như Alexander von Nandelstadh và Matts Rosenberg (2003) nghiên cứu bằng chứng thực nghiệm về cơ chế quản trị và thành quả tài chính công ty tại Phần Lan; Rejie George Pallathitta (2005) nghiên cứu quản trị công ty và thành quả tài chính của các công ty tại Ấn Độ, trong đó phân tích về cấu trúc sở hữu, tái phân phối lợi nhuận, chiến lược đa dạng hóa; Kumudini Heenetigala (2011) cũng đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm quản trị công ty và thành quả tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 chính của các công ty niêm yết tại Sri Lanka; Augustine Ujunwa (2012) tiến hành nghiên cứu đặc tính hội đồng quản trị và thành quả các công ty niêm yết tại Nigeria; Jaana Lappalainen và Mervi Niskanen (2012) đã thực hiện nghiên cứu cấu trúc sở hữu và thành phần hội đồng quản trị tác động đến thành quả doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Phần Lan; và còn nhiều nghiên cứu khác.
Tại Việt Nam, mặc dù các quy tắc quản trị công ty này đã du nhập và đã tiến hành áp dụng vào thực tiễn hoạt động của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán nhưng vẫn chưa có nhiều những nghiên cứu chuyên sâu vận dụng các lý thuyết, triết lý quản trị công ty vào hoạt động của các công ty cổ phần. Chính vì vậy, rất cần có những nghiên cứu khoa học về ảnh hưởng của các khía cạnh chủ yếu của quản trị công ty (như đặc tính của hội đồng quản trị, cấu trúc sở hữu…) đến thành quả hoạt động của công ty cổ phần, một mặt đóng góp vào hệ thống lý luận về điều hành công ty, mặt khác đề xuất các gợi ý hoàn thiện hoạt động quản trị công ty tại thị trường Việt Nam. Do đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của đặc tính hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữu đến thành quả tài chính của các công ty cổ phần Việt Nam” để thực hiện luận văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành tài chính doanh nghiệp. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu của luận vănlà đánh giá sự ảnh hưởng của đặc tính hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữu đến thành quả tài chính của các công ty cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu. Đối với các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc tính hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng như thế nào đến thành quả tài chính của các công ty đó ? 1.
Đối tượng – phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối liên hệ ảnh hưởng giữa đặc tính hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữuvới thành quả tài chính của công ty cổ phần Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi thời gian: luận văn nghiên cứu các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012. Phạm vi không gian: Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu. Với mục tiêu nghiên cứu như trên, luận văn tiến hành kiểm chứng các giả thiết nghiên cứu trong mẫu nghiên cứu.
Bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Pooled, Fixed effect, Random effect) tác giả xem xét mối quan hệ giữa các nhân tố đặc tính hội đồng quản trị, cấu trúc sở hữu và đặc tính công ty với thành quả tài chính của công ty cổ phần. Mô hình nghiên cứu xây dựng biến phụ thuộc là thành quả tài chính của công ty cổ phần, các biến độc lập được phân loại thành 3 nhóm: - Đặc tính hội đồng quản trị gồm có các biến: thành phần hội đồng quản trị, quy mô hội đồng quản trị, sự đa dạng của hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm tổng giám đốc của chủ tịch hội đồng quản trị - Cấu trúc sở hữu gồm có các biến: sở hữu công lớn, sở hữu ngoại quốc lớn, sở hữu tư nhân lớn, sở hữu có quyền quản trị - Các biến kiểm soát đặc tính công ty gồm có các biến: quy mô công ty, cấu trúc vốn của công ty, thời gian hoạt động liên tục của công ty trên thị trường Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trên 228 công ty cổ phần niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Đây là nhóm các công ty hoạt động liên tục 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012 thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau (phi tài chính). Thông tin sử dụng gồm có báo cáo thường niên, báo cáo tài chính, các thông tin được công bố chính thức trên hai sở giao dịch chứng khoán.
Đầu tiên tác giả thống kê, mô tảdữ liệu, sau đó tiến hành phân tích hồi quy trên toàn mẫu bằng Pooled, Fixed effect, Random effect. Kiểm định các hệ số TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 hồi quy, các giả thiết nghiên cứu luận văn, và kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu. Tính mới của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu và kế thừa những nghiên cứu đã thực hiện tại Việt Nam và các nghiên cứu khác trên thế giới, luận văn được thực hiện cố gắng khắc phục những điểm hạn chế của các nghiên cứu trước về số lượng mẫu quan sát được thu thập nhiều hơn (228 công ty) với dữ liệu đầy đủ và liên tục từ năm 2008 đến năm 2012 của các công ty niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Kết quả nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu các đặc tính của hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữu tác động đến thành quả tài chính của công ty.
Chỉ tiêu đo lường thành quả tài chính của công ty được kết hợp 2 chỉ số đo lường hiệu quả tài chính theo phương pháp kế toán là ROA, ROE và và chỉ số đo lường hiệu quả tài chính theo thị trường là Tobin’s Q. Việc xây dựng các biến kiểm soát cũng tập trung vào làm rõ đặc tính công ty qua các biến quy mô vốn, cấu trúc vốn, thời gian hoạt động liên tục phù hợp với đặc thù các công ty niêm yết tại Việt Nam có quy mô vốn khác nhau, cách thức sử dụng nợ khác nhau tùy theo ngành nghề hoạt động của công ty, đặc biệt là tính liên tục cũng khá quan trọng đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán còn non trẻ như Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC TÍNH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ, CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN THÀNH QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN. Trong phần này, luận văn tiến hành lược khảo các lý thuyết về quản trị công ty, trong đó tập trung vào các lý thuyết và kết quả nghiên cứu đã thực hiện trong nước và nước ngoài về mối quan hệ giữa đặc tính hội đồng quản trị, cấu trúc sở hữu và thành quả tài chính của công ty.
Quản trị công ty (Corporate Governance) Trong nền kinh tế thị trường, khi các công ty ngày càng lớn mạnh và niêm yết tại các thị trường chứng khoán thì một tỷ lệ lớn các cổ đông sẽ nắm giữ cổ phần của công ty. Khi đó sẽ xuất hiện vấn đề “đại diện”, theo như Berle và Means (1932) đã trình bày, khi các công ty niêm yết phát triển và cổ đông của công ty trở nên đa dạng, sự tách biệt giữa cổ đông – chủ sở hữu và đại diện của họ - thành viên hội đồng quản trị cũng lớn thêm, quyền lực được chuyển nhiều hơn sang các thành viên hội đồng quản trị và đôi khi sẽ bị họ lạm dụng. Khi đó làm thế nào để những người đại diện hành động chỉ vì lợi ích của người chủ sở hữu là một vấn đề nan giải. Bên cạnh đó, khi các cổ đông lớn nắm giữ quyền kiểm soát công ty dù không sở hữu 100% vốn thì nếu họ hành xử ngược lại lợi ích của công ty, bản thân họ chỉ phải gánh chịu thiệt hại theo tỉ lệ phần trăm vốn sở hữu.
Vấn đề này tồn tại và phát triển cùng các công ty cổ phần ở Hoa Kỳ trong suốt những năm 1920s.