chương 1, bài nghiên cứu nêu lên tính cấp thiết và lý do vì sao chọn đề tài cùng mục tiêu, câu hỏi và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài. Chương 2 sẽ trình bày rõ hơn về tổng quan lý thuyết và các kết quả thực nghiệm liên quan đến việc tránh thuế và các hợp đồng nợ của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán Tp.HCM, cũng như đề xuất các giả thiết cho phần nghiên cứu này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT, CÁC KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢ THIẾT. Một số khái niệm cơ bản 2.
Thuế thu nhập doanh nghiệp 2. Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào lợi nhuận của các doanh nghiệp. Ở Việt Nam, luật thuế TNDN được Quốc hội thông qua ngày 10/05/1997 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1999 thay cho luật thuế lợi tức. Đặc điểm Bản chất của thuế TNDN được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó.
Qua các giai đoạn phát triển, những thuộc tính này vẫn giữ tính ổn định tương đối. Thuế TNDN có những đặc trưng riêng để phân biệt với các sắc thuế khác như: Thứ nhất, thuế TNDN có đặc điểm là đối tượng nộp thuế đồng thời là đối tượng chịu thuế theo luật quy định. NNT theo luật thuế TNDN cũng là người trả thuế cuối cùng trong chu kỳ SXKD. Thứ hai, thuế TNDN là một khoản chuyển giao của NNT cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự.
Đặc điểm này xác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN – Việc động viên mang tính bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức TNDN là một phương thức phân phối của Nhà nước. Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế TNDN được thể hiện: Một là, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN không được hoàn trả trực tiếp, đồng nghĩa với việc NNT sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng.
Hai là, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối giá, nghĩa là mức thuế mà các thành phần trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ NNT thừa hưởng những dịch vụ công cộng do Nhà nước cung cấp. NNT cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp dịch vụ công cộng cho mình mới phát sinh khoản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 chuyển giao thu nhập cho Nhà nước, mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Thứ tư, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN được quy định trước bằng pháp luật. Điều này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế TNDN, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập này dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định và được xác định trong Luật thuế TNDN.
Những tiêu thức thường được xác định trong Luật thuế TNDN là đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, thời hạn cụ thể, mức thuế phải nộp, và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN chịu những ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, chính trị, kinh tế trong những thời kỳ nhất định. Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế TNDN thường là thể chế chính trị của Nhà nước, tâm lý tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hoá. Yếu tố kinh tế tác động đến thuế TNDN thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế, giá cả thị trường, sự biến động của Ngân sách Nhà nước.
Các khoản chuyển giao thuế thu nhập dưới hình thức thuế TNDN chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản. Đặc điểm của thuế TNDN trong nền kinh tế thị trường. Luật thuế TNDN năm 2003 được đưa vào thực hiện từ 01/01/2004 sửa đổi Luật thuế TNDN năm 1997 thay thế cho thuế lợi tức trước đây đã mở rộng đối tượng chịu thuế, bao gồm toàn bộ thu nhập nhận được trong nền kinh tế thị trường và thống nhất áp dụng với mọi thành phần kinh tế và mọi loại hình doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp trong nước và đối tượng đầu tư nước ngoài. Trong điều kiện nền kinh tế mới luật thuế TNDN tạo nên một môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh hơn, làm cho nền kinh tế đất nước nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Vai trò của thuế TNDN được thể hiện: Thứ nhất, đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN. Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN nhằm đảm bảo trang trải cho các nhu cầu chi tiêu cần thiết của Nhà nước, cho nên vai trò đầu tiên của thuế TNDN là bảo đảm một nguồn thu ổn định cho NSNN thông qua việc mở rộng đối tượng chịu thuế. Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 phát triển, thuế TNDN có khả năng bao quát được hầu hết các nguồn thu nhập phát sinh do xuất hiện nhiều loại hình thu nhập phức tạp và tinh vi hơn trước. Thứ hai, thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết các hoạt động kinh doanh và quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua hệ thống miễn giảm thuế, ưu đãi về thuế suất, thuế TNDN góp phần định hướng cho các Nhà Đầu tư đầu tư vào các khu vực, lĩnh vực mà Nhà nước cần khuyến khích đầu tư, từ đó thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Thứ ba, thuế TNDN thể hiện vai trò đặc trưng của thuế là đảm bảo công bằng xã hội. Với sắc thuế trực thu, thuế TNDN có khả năng đảm bảo công bằng theo chiều dọc là đối tượng nộp thuế có thu nhập chịu thuế cao thì nộp thuế nhiều, đối tượng nộp thuế có thu nhập thấp thì nộp thuế ít. Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn thì được giảm thuế, được chuyển lỗ sang những năm sau…thuế TNDN có nhiều mức thuế suất ưu đãi khác nhau.
Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh, thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc nhiều vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ…). Sự phân hóa giàu nghèo là điều không thể tránh khỏi. Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các thành viên trong xã hội. Thứ tư, thuế TNDN là công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động của NNT.
Nhìn vào số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp, so sánh đối với số thuế TNDN của các doanh nghiệp cùng ngành ở địa phương và trong cả nước có thể đánh giá khái quát về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp làm ăn có lãi mới phát sinh số thuế phải nộp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng lớn thì số thuế TNDN phải nộp càng cao. Nếu số thuế TNDN phải nộp giảm xuống qua các năm thì chứng tỏ doanh nghiệp đang làm ăn giảm sút và ngược lại là hoạt động SXKD của doanh nghiệp có hiệu quả. Như vậy thuế TNDN là một công cụ đánh giá hiệu quả SXKD của đơn vị một cách chính xác.
Thứ năm, thuế TNDN là công cụ thúc đẩy việc nâng cao trình độ hạch toán kế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 toán đối với các đối tượng nộp thuế. Theo Luật thuế TNDN, các đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tính số thuế phải nộp, tự kê khai, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về các số liệu tính toán và kê khai đó. Sự trung thực, chính xác của số liệu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công tác hạch toán kế toán ở từng công ty. Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNDN, cơ quan thuế phải chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra NNT qua đó có thể phát hiện những biểu hiện tiêu cực, những sai sót trong quá trình hạch toán kế toán của Người nộp thuế và tùy vào từng trường hợp sai phạm mà cán bộ thuế sẽ áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời… Nhờ đó ý thức của NNT sẽ dần được nâng cao và công tác hạch toán kế toán cũng từng bước hoàn thiện hơn.
Thứ sáu, thuế TNDN còn có vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Thông qua chính sách miễn, giảm, ưu đãi thuế TNDN, Nhà nước sẽ ưu tiên cho ngành cần phát triển để chuyển dịch, thu hút Nhà đầu tư từ ngành chưa cần phát triển sang ngành cần phát triển, phục vụ mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chênh lệch giữa chính sách thuế và chế độ kế toán Sự khác biệt giữa chính sách thuế và chế độ kế toán tạo ra các khoản chênh lệch trong việc ghi nhận doanh thu và chi phí cho một kỳ kế toán nhất định, dẫn tới chênh lệch giữa chi phí thuế thu nhập của doanh nghiệp theo chế độ kế toán áp dụng với số thuế thu nhập phải nộp trong kỳ. Chênh lệch tạm thời là các khoản chênh lệch phát sinh do cơ quan thuế chưa chấp nhận ngay trong kỳ kế toán hoặc trong năm tài chính các khoản doanh thu, chi phí đã ghi nhận theo chuẩn mực và chính sách kế toán doanh nghiệp áp dụng. Các khoản chênh lệch này sẽ được khấu trừ hoặc tính thuế thu nhập trong các kỳ kế toán hoặc trong năm tài chính tiếp theo.
Các khoản chênh lệch tạm thời thường bao gồm các khoản chênh lệch mang tính thời điểm hay còn gọi là chênh lệch theo thời gian và các khoản ưu đãi thuế có thể thực hiện. Ví dụ: Chênh lệch phát sinh do chính sách ghi nhận doanh thu nhận trước của doanh nghiệp với quy định của chính sách thuế; Chênh lệch về chi phí khấu hao do chính sách khấu hao nhanh của doanh nghiệp không phù hợp với quy định về khấu hao theo chính sách thuế (Quyết định 206; Chênh lệch do các khoản chi phí chưa thực hiện như trích trước tiền lương nghỉ phép TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nhưng chưa thực chi, trích trước chi phí bảo hành nhưng chưa thực chi, … Các khoản chênh lệch tạm thời là đối tượng điều chỉnh của VAS 17. Hợp đồng vay ngân hàng.