Tổng quan nghiên cứu

Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012-2014 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ với hơn 700 doanh nghiệp niêm yết trên hai sở giao dịch HOSE và HNX. Cùng với sự phát triển này, xu hướng tách biệt giữa quyền sở hữu của các cổ đông và quyền điều hành của ban quản lý ngày càng rõ nét, làm nảy sinh xung đột lợi ích đại diện sâu sắc. Nhà quản trị thường đứng trước áp lực phải công bố các chỉ tiêu tài chính ấn tượng nhằm duy trì giá cổ phiếu, đáp ứng kỳ vọng của hơn 1,5 triệu tài khoản nhà đầu tư hoặc tối đa hóa các khoản thu nhập cá nhân. Thực trạng này thúc đẩy các nhà quản trị thực hiện hành vi can thiệp, điều chỉnh lợi nhuận kế toán thông qua các khoản dồn tích tùy ý, khiến bức tranh tài chính bị sai lệch so với giá trị thực tế.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kế toán của tác giả Nguyễn Đắc Tấn tại Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH) tập trung cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm: nhận diện các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận phổ biến, xác định mô hình đo lường phù hợp với thị trường Việt Nam và xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của quy mô, lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận trước thuế và lãi vay đến các khoản dồn tích tùy ý. Mẫu nghiên cứu bao gồm 100 công ty niêm yết phi tài chính với 300 quan sát liên tục trong chu kỳ 3 năm từ 2012 đến 2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao tính minh bạch thông tin, hỗ trợ cơ quan quản lý và các nhà đầu tư phát hiện sớm các dấu hiệu thao túng báo cáo tài chính trên thị trường vốn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 3 lý thuyết kinh tế và tài chính kinh điển: Lý thuyết ủy nhiệm (Jensen và Meckling, 1976), Lý thuyết tín hiệu (Spence, 1973) và Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Akerlof, Spence và Stiglitz, 2001). Lý thuyết ủy nhiệm chỉ ra rằng sự bất đồng mục tiêu giữa cổ đông (bên ủy nhiệm) và ban điều hành (bên được ủy nhiệm) làm phát sinh chi phí đại diện, tạo động cơ để nhà quản lý tác động vào số liệu kế toán. Lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết tín hiệu lý giải cách thức các doanh nghiệp phát đi tín hiệu tài chính tích cực ra thị trường thông qua báo cáo tài chính nhằm thu hút dòng vốn đầu tư và duy trì các điều khoản tín dụng ưu đãi.

Khái niệm trung tâm của nghiên cứu là hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Earnings Management), được định nghĩa bởi Healy và Wahlen (1999) cũng như Ronen và Yaari (2008) như một chuỗi các xét đoán kế toán có chủ đích nhằm thay đổi kết quả báo cáo tài chính. Hành vi này bắt nguồn từ nguyên tắc kế toán dồn tích theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01), trong đó tổng biến dồn tích (TA) là phần chênh lệch giữa lợi nhuận sau thuế và lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Tổng dồn tích được phân tách thành hai cấu phần: dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) do môi trường kinh doanh quyết định và dồn tích tùy ý (DA) xuất phát từ ý chí chủ quan của nhà quản lý. Nhà quản trị thường tận dụng quyền xét đoán trong việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 02, dự phòng nợ phải thu khó đòi theo Thông tư 228/2009/TT-BTC hoặc ước tính thời gian khấu hao tài sản cố định theo Thông tư 45/2013/TT-BTC để dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thực nghiệm với nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo kiểm toán độc lập của 100 công ty niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong 3 năm liên tục (2012-2014), tạo nên bộ dữ liệu bảng gồm 300 quan sát. Mẫu nghiên cứu loại trừ toàn bộ các tổ chức tài chính, ngân hàng và công ty chứng khoán do đặc thù khác biệt về cơ cấu vốn và khuôn khổ pháp lý kế toán. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích đảm bảo 100% doanh nghiệp có đầy đủ báo cáo kiểm toán liên tục trong suốt giai đoạn khảo sát.

Để đo lường biến phụ thuộc là biến kế toán dồn tích tùy ý (DA), nghiên cứu áp dụng 2 mô hình định lượng phổ biến: Mô hình Jones điều chỉnh (Modified Jones, 1995) và Mô hình Kothari cùng cộng sự (2005) có kiểm soát hiệu quả hoạt động thông qua tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA). Mô hình hồi quy tuyến tính bao gồm 8 biến giải thích và biến kiểm soát đặc trưng của doanh nghiệp: lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), lợi nhuận sau thuế (PROFIT), quy mô doanh nghiệp (SIZE), tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROW), rủi ro kinh doanh (RISK), tài sản cố định hữu hình (TANG), khả năng sinh lời (ROA) và phẩm chất công ty kiểm toán (AUD). Quy trình xử lý dữ liệu trên phần mềm STATA và SPSS bao gồm: thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan Pearson, hồi quy OLS gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FE), mô hình tác động ngẫu nhiên (RE) và kiểm định Hausman nhằm lựa chọn phương pháp ước lượng tối ưu nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp (SIZE) có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các doanh nghiệp có quy mô tổng tài sản lớn thường có mức độ can thiệp vào các khoản dồn tích tùy ý cao hơn nhằm duy trì mức tăng trưởng lợi nhuận ổn định và tránh áp lực sụt giảm giá cổ phiếu từ các tổ chức tài chính lớn.

Thứ hai, biến lợi nhuận sau thuế (PROFIT) thể hiện mối tương quan đồng biến rõ nét với biến dồn tích tùy ý (DA). Khi lợi nhuận sau thuế tăng 1 đơn vị độ lệch chuẩn, mức độ điều chỉnh dồn tích tăng tương ứng, chứng minh giả thuyết các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng sử dụng thủ thuật tạo quỹ dự phòng bí mật (Cookie jar reserves) trong những năm có kết quả kinh doanh đột biến để tích lũy cho các giai đoạn khó khăn tiếp theo.

Thứ ba, biến lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) có tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê đến biến dồn tích tùy ý. Khi hiệu quả kinh doanh từ hoạt động cốt lõi sụt giảm, nhà quản trị có xu hướng gia tăng dồn tích tùy ý để bù đắp sự thiếu hụt lợi nhuận hoạt động. Thống kê thực nghiệm từ 300 quan sát chỉ ra rằng có hơn 60% doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu từng thực hiện các hành vi điều chỉnh tăng hoặc giảm lợi nhuận thông qua các khoản mục ước tính kế toán ít nhất một lần trong giai đoạn 2012-2014.

Thảo luận kết quả

Thực trạng điều chỉnh lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Việt Nam phản ánh rõ nét áp lực cạnh tranh vốn và các ràng buộc trong hợp đồng vay nợ tín dụng. Khi doanh nghiệp chuẩn bị phát hành thêm cổ phiếu hoặc huy động trái phiếu, hành vi thổi phồng doanh thu và trì hoãn ghi nhận chi phí xuất hiện với tần suất cao.

Luận văn dẫn chứng các trường hợp thực tiễn điển hình trên thị trường:

  • Điển hình tại Tập đoàn Vinashin, báo cáo tài chính năm 2009 trước kiểm toán chỉ ghi nhận lỗ 1.682,5 tỷ đồng, nhưng kết quả kiểm toán của KPMG đã xác định mức lỗ thực tế lên tới 4.954 tỷ đồng (tăng lỗ thêm 3.302 tỷ đồng) do doanh nghiệp chưa trích đủ khấu hao tài sản cố định và hoãn phân bổ chi phí các hợp đồng đóng tàu.
  • Trường hợp một doanh nghiệp niêm yết năm 2011 công bố lợi nhuận sau thuế 7,3 tỷ đồng trong báo cáo tự lập, nhưng sau khi kiểm toán Deloitte soát xét, lợi nhuận đã bị điều chỉnh giảm 82% xuống còn 1,3 tỷ đồng do ghi nhận khống 6 tỷ đồng doanh thu tài chính chưa đủ điều kiện.

Trên các biểu đồ phân tán và bảng kết quả hồi quy OLS/FE/RE, các điểm dữ liệu của biến DA tập trung dày đặc xung quanh ngưỡng lợi nhuận bằng 0, chứng minh tâm lý né tránh báo cáo lỗ của các nhà quản trị doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể nhằm tăng cường tính minh bạch của thông tin kế toán:

  • Hoàn thiện khung pháp lý và quy chế giám sát công bố thông tin: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính cần thiết lập cơ chế thanh tra định kỳ 6 tháng/lần đối với các doanh nghiệp có tỷ lệ biến động dồn tích vượt ngưỡng 15% so với bình quân ngành. Cơ quan chức năng cần ban hành hướng dẫn chi tiết về việc lượng hóa giá trị thuần có thể thực hiện được theo Thông tư 228/2009/TT-BTC, đặt mục tiêu kéo giảm 30% mức độ sai lệch thông tin trên các báo cáo tài chính công bố trong vòng 12 tháng tới.
  • Tăng cường vai trò kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp niêm yết: Các doanh nghiệp niêm yết cần tái cấu trúc Hội đồng quản trị, đảm bảo tỷ lệ thành viên độc lập đạt tối thiểu 33% theo chuẩn mực quản trị công ty. Doanh nghiệp cần thành lập Ủy ban Kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị với 100% thành viên có chuyên môn sâu về tài chính kế toán để giám sát nghiêm ngặt các chính sách ghi nhận doanh thu và trích lập dự phòng.
  • Nâng cao năng lực và trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán độc lập: Các công ty kiểm toán cần xây dựng quy trình đánh giá rủi ro dồn tích tùy ý trước khi phát hành báo cáo kiểm toán, tăng cường rà soát 100% các hợp đồng kinh tế phát sinh trong tháng cuối niên độ kế toán và áp dụng các biện pháp kiểm toán chuyên sâu đối với các doanh nghiệp quy mô lớn có chỉ số EBIT suy giảm.
  • Phát triển công cụ phân tích chất lượng lợi nhuận cho nhà đầu tư: Các hiệp hội đầu tư và công ty chứng khoán cần đào tạo nhà đầu tư sử dụng hệ số tương quan giữa dòng tiền kinh doanh và lợi nhuận sau thuế, duy trì ngưỡng an toàn dòng tiền trên lợi nhuận đạt tối thiểu 1,0 để chủ động loại bỏ các cổ phiếu có nguy cơ thao túng lợi nhuận trước khi ra quyết định giải ngân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà đầu tư cá nhân và tổ chức tài chính: Cung cấp bộ công cụ nhận diện các dấu hiệu làm đẹp báo cáo tài chính thông qua biến dồn tích tùy ý (DA), giúp đánh giá chính xác chất lượng lợi nhuận thực tế và giảm thiểu 40% rủi ro đưa ra quyết định sai lầm trên thị trường chứng khoán.
  • Giám đốc tài chính (CFO) và Kế toán trưởng: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về ranh giới giữa lựa chọn chính sách kế toán hợp pháp và hành vi gian lận thông tin, định hướng xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ và chuẩn bị phương án chuyển đổi từ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) sang chuẩn mực quốc tế IFRS trong lộ trình 2 đến 3 năm.
  • Kiểm toán viên và chuyên viên phân tích nghiệp vụ: Cung cấp khung phương pháp luận áp dụng mô hình Modified Jones (1995) và Kothari (2005) để định lượng rủi ro kiểm toán ban đầu đối với 100% doanh nghiệp khách hàng niêm yết trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là nguồn tài liệu học thuật giá trị với cấu trúc 5 chương hoàn chỉnh, hệ thống hóa toàn diện 8 biến số tài chính trên bộ dữ liệu bảng 300 quan sát, tạo nền tảng vững chắc cho các đề tài nghiên cứu mở rộng trong lĩnh vực kế toán tài chính.

Câu hỏi thường gặp

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận khác với gian lận báo cáo tài chính như thế nào? Điều chỉnh lợi nhuận là việc nhà quản lý tận dụng quyền xét đoán trong khuôn khổ các chuẩn mực kế toán hiện hành như VAS 01 để thay đổi số liệu báo cáo theo mục tiêu mong muốn. Ngược lại, gian lận là hành vi cố tình vi phạm pháp luật bằng cách tạo dựng giao dịch khống, bỏ ngoài sổ sách công nợ hoặc che giấu chi phí. Trong 100 doanh nghiệp khảo sát, hành vi điều chỉnh dồn tích diễn ra trong giới hạn chuẩn mực quy định.

Tại sao cơ sở kế toán dồn tích lại tạo điều kiện cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận? Nguyên tắc kế toán dồn tích ghi nhận doanh thu và chi phí tại thời điểm giao dịch phát sinh thay vì thời điểm thực thu thực chi tiền mặt. Sự khác biệt giữa dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận sau thuế tạo ra các khoản dồn tích. Nhà quản trị có thể thay đổi thời gian phân bổ khấu hao hoặc tỷ lệ trích lập dự phòng nợ xấu để tác động trực tiếp làm tăng hoặc giảm lợi nhuận kế toán từ 10% đến 30%.

Mô hình Jones điều chỉnh (1995) đo lường dồn tích tùy ý bằng cách nào? Mô hình Modified Jones bóc tách tổng dồn tích thành hai phần: dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) dựa trên sự biến động của doanh thu thuần sau khi trừ các khoản phải thu và nguyên giá tài sản cố định; phần sai số còn lại chính là biến dồn tích tùy ý (DA). Giá trị DA càng lớn chứng tỏ mức độ can thiệp chủ quan của nhà quản lý vào số liệu lợi nhuận càng cao.

Quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng ra sao đến mức độ điều chỉnh lợi nhuận tại Việt Nam? Kết quả kiểm định trên 300 quan sát từ 100 công ty niêm yết khẳng định quy mô doanh nghiệp (SIZE) có tương quan thuận chiều mạnh mẽ với biến DA ở mức ý nghĩa 1%. Doanh nghiệp có quy mô tài sản hàng nghìn tỷ đồng thường chịu áp lực lớn từ các chỉ tiêu tài chính cam kết với ngân hàng và kỳ vọng thị trường, do đó tần suất điều chỉnh dồn tích cao hơn các doanh nghiệp nhỏ.

Nhà đầu tư có thể phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng những dấu hiệu nào? Nhà đầu tư cần so sánh tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế với dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Nếu lợi nhuận tăng trưởng trên 20% nhưng dòng tiền kinh doanh âm liên tục trong 2 năm, đồng thời các khoản phải thu khách hàng và hàng tồn kho tăng đột biến, đây là bằng chứng rõ ràng của việc sử dụng dồn tích tùy ý để thổi phồng thu nhập.

Kết luận

  • Luận văn thạc sĩ đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận dựa trên Lý thuyết ủy nhiệm, Lý thuyết tín hiệu và Lý thuyết thông tin bất cân xứng trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Nghiên cứu thực nghiệm trên mẫu 100 công ty niêm yết phi tài chính với 300 quan sát giai đoạn 2012-2014 đã kiểm định thành công mô hình hồi quy tuyến tính đo lường tác động của các đặc điểm doanh nghiệp đến biến dồn tích tùy ý (DA).
  • Bằng chứng thực nghiệm khẳng định quy mô doanh nghiệp (SIZE) và lợi nhuận sau thuế (PROFIT) có tác động thuận chiều, trong khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) có tác động nghịch chiều đến mức độ điều chỉnh lợi nhuận.
  • Đề tài đóng góp 4 nhóm khuyến nghị chính sách có tính khả thi cao cho cơ quan quản lý, doanh nghiệp, kiểm toán viên và nhà đầu tư nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trong lộ trình 6 đến 12 tháng.
  • Định hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quy mô mẫu lên hơn 500 doanh nghiệp và kéo dài chuỗi thời gian 5-10 năm để đánh giá toàn diện tác động khi Việt Nam áp dụng chuẩn mực IFRS. Hãy tham khảo và trích dẫn toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đắc Tấn để hoàn thiện các công trình nghiên cứu và chiến lược phân tích tài chính chuyên sâu.