Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận văn thạc sĩ phân tích ảnh hưởng đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

128
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm doanh nghiệp và điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích đặc điểm doanh nghiệp và ảnh hưởng của chúng đến điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế, và tăng trưởng doanh nghiệp được xem xét kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy, các công ty có quy mô lớn và lợi nhuận cao thường có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận nhiều hơn. Điều này phản ánh sự tác động của đặc điểm công ty đến quản lý lợi nhuận.

1.1. Quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp (SIZE) là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến điều chỉnh lợi nhuận. Các công ty lớn thường có nhiều cơ hội và áp lực để điều chỉnh lợi nhuận nhằm đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xác định mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

1.2. Lợi nhuận sau thuế

Lợi nhuận sau thuế (PROFIT) cũng là yếu tố quan trọng. Các công ty có lợi nhuận cao thường có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận để duy trì hình ảnh và giá trị cổ phiếu. Nghiên cứu chỉ ra rằng, lợi nhuận công ty có tác động đáng kể đến tối ưu hóa lợi nhuận.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng, bao gồm thống kê mô tả, phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính. Dữ liệu được thu thập từ 100 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2012-2014. Kết quả cho thấy, đặc điểm doanh nghiệp có ảnh hưởng rõ rệt đến điều chỉnh lợi nhuận.

2.1. Mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng mô hình Modified Jones (1995)Kothari et al. (2005) để đo lường kế toán dồn tích tùy ý (DA). Các biến độc lập như quy mô doanh nghiệp (SIZE), lợi nhuận sau thuế (PROFIT), và EBIT được sử dụng để phân tích.

2.2. Kết quả phân tích

Kết quả hồi quy cho thấy, quy mô doanh nghiệplợi nhuận sau thuế có tác động tích cực đến điều chỉnh lợi nhuận. Điều này khẳng định giả thuyết rằng đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng đến quản lý lợi nhuận.

III. Ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu chỉ ra rằng, điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết có tác động đáng kể đến thị trường chứng khoán Việt Nam. Việc điều chỉnh lợi nhuận có thể dẫn đến sự sai lệch trong giá trị cổ phiếu, gây hiểu nhầm cho nhà đầu tư. Điều này đặt ra yêu cầu về tính minh bạch và trung thực trong báo cáo tài chính.

3.1. Tính minh bạch

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Các công ty cần công bố thông tin chính xác để đảm bảo niềm tin của nhà đầu tư và sự phát triển bền vững của thị trường.

3.2. Kiến nghị

Nghiên cứu đưa ra các kiến nghị cụ thể cho các doanh nghiệp niêm yết, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhằm tăng cường tính trung thực và minh bạch trong quản lý lợi nhuận.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận như “ Kế toán cơ sơ dồn tích và hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp” (2009), “Các mô hình quản trị lợi nhuận của các nước phát triển có phù hợp với bối cảnh Việt Nam: phân tích lý thuyết” (2005); “ (2007) của PGS.TS Nguyễn Công Phương. Các nghiên cứu này đã cung cấp các cơ sở lý thuyết hữu ích cho các nghiên cứu về việc vận dụng các chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra các ưu điểm và nhược điểm của tùng mô hình. Nguyễn Thị Minh Trang (2011), Kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị (NQT).

Bài báo đã trình bày một cách tổng quát về các kỹ thuật như lựa chọn phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản… mà các NQT có thể vận dụng để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan, đồng thời đưa ra một vài ý kiến về tính trung thực của thông tin kế toán và yêu cầu công bố để tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các đối tượng kiểm tra chất lượng nguồn thông tin từ đó đưa ra quyết định đúng đắn. Bài nghiên cứu chấp nhận rằng điều chỉnh lợi nhuận luôn có mối quan hệ với việc CBTT nhưng chưa thực hiện kiểm tra thực nghiệm. Nguyễn Thị Phương Thảo (2011), “Ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ suất thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc điều chỉnh lợi nhuận: trường hợp công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh”. Với nghiên cứu này tác giả cũng sử dụng mô hình Friedlan và đã đưa ra kết luận có 60% công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế TNDN, có 40% doanh nghiệp điều chỉnh tăng lợi nhuận.

Huỳnh Thị Vân (2012),“Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với số liệu trên BCTC năm 2008-2010 của các DN năm đầu niêm yết trên 2 sàn chứng khoán TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, dựa trên 2 mô hình được lựa chọn là Mô hình DeAngelo (1986) và Mô 6 hìnhFriedlan(1994).Tác giả đã đưa ra 3 nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với những DN niêm yết gồm năm đầu niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế, quy mô DN. Qua khảo sát kết quả cho thấy rằng phần lớn các tổ chức niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán, điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết quan hệ thuận chiều với điều kiện ưu đãi thuế TNDN mà DN được hưởng. Qua đó tác giả cũng đưa ra các kiến nghị về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC trong đó nhấn mạnh vấn đề CBTT.

Phan Thị Thùy Dương (2015),“Sử dụng mô hình Jones để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận: trường hợp các công ty niêm yết ở Hose phát hành thêm cổ phiếu năm 2013”. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 75% công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận và 25% công ty điểu chỉnh giảm lợi nhuận. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chỉ mới đưa ra được một nhân tố ảnh hưởng đến điều chỉnh lợi nhuận là việc phát hành thêm cổ phiếu, chưa đi sâu vào phân tích các nhân tố khác ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh như quy mô công ty, chất lượng kiểm toán, ROA… Nguyễn Thị Phương (2014) xem xét mối quan hệ giữa mức độ tin và hành vi điều chỉnhlợi nhuận. Giả thuyết được đưa ra rằng mức độ thông tin và quản trị lợi nhuận có mối quan hệ nghịch biến.

Mức độ tin được dựa trên các chỉ mục được công bố trên thuyết minh BCTC của mẫu được chọn từ các công ty niêm yết trên sàn chứ ệt Nam, và mức độ điều chỉnhlợi nhuận được sử dụng mô hình Jones điều chỉnh để đo lường. Phân tích thực nghiệm chỉ ra rằng mức độ ủa công ty và quản trị lợi nhuận có liên quan tiêu cực với nhau. “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính tại các công ty cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khóan Thành phố Hồ Chí Minh” của Trần Thị Mỹ Tú (2014) đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận. Kết quả đưa ra một số biến có tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận.

7 Bài báo “Đặc điểm doanh nghiệp và tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn mục tiêu của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp niêm yết tại Việt Nam” của Trần Hùng Sơn (2012) đề cập các yếu tố đặc thù của doanh nghiệp như: Lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng, qui mô và cách đo lường đại diện cho các nhân tố trên. Các đề tài này đều không đề cập đế đặc điểm doanh nghiệp đối với , vì vậy, việc lựa chọn hướng nghiên cứu của tác giả không trùng lắp so với các đề tài có liên quan trong nước.2 Nghiên cứu nước ngoài “Assessment of the effects of firm’s characteristics on earnings management of listed firms in Nigeria – (2015).Bài nghiên cứu khả. Bài nghiên cứu đã sử dụng số liệu trên BCTC của 20 công ty giai đoạn 2006-2010 và sử dụng mô hình Dechow, Sloan and Sweeny(1995) để đo lường quản trị lợi nhuận. Từ đó tác giả xây dựng mô hình để đo lường mối quan hệ giữ ợi nhuận.

Kết quả cho thấ ản trị lợi nhuận có mối quan hệ. “Disclosurequalityand earnings management” - Gerald J. Lobo, and Jian Zhou (2001).Bài nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa chất lượng thông tin công bố và quản trị lợi nhuận. Bài nghiên cứu đã sử dụng số liệu trên BCTC của 2531 công ty giai đoạn 1990-1995, và sử dụng mô hình Dechow, Sloan and Sweeny(1995) để đo lường quản trị lợi nhuận.

Từ đó tác giả xây dựng mô hình để đo lường mối quan hệ giữa chất lượng CBTT và quản trị lợi nhuận. Kết quả cho thấy chất lượng CBTT và quản trị lợi nhuận có mối quan hệ nghịch biến. “Firm size, timing, and earnings management of seasoned equity offerings” – Pei-Gi Shu, Sue –Jane Chiang (2014) sử dụng mô hình (DeAngelo, 1986; Healy, 1985; Jones, 1991;Rangan, 1998; ., 1998) đã đưa ra các nhân tố ng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận là quy mô công ty, t 8 thông tin. Tuy nhiên, bài nghiên cứu còn hạn chế là chỉ áp dụng đặc biệt cho thị trường Đài Loan, nên nếu sử dụng cho các thị trường khác sẽ có sự khác biệt.

“Growth Opportunities and Earnings management” - Fouad AlNajjar và cộng sự (2001). Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa cơ hội đầu tư và lựa chọn chính sách kế toáncủa nhà quản lý các tập đoàn đa quốc gia. Mối quan hệ này cung cấp quản trị rủi ro và động cơ để giảm chi phí liên quan với cơ hội đầu tư cao, bằng cách sử dụng phương pháp giảm thu nhập trích trước. Nghiên cứu này cho thấy rằng quản lý của công ty có các cơ hội đầu tư ở mức cao thường sử dụng các thủ thuật kế toán nhằm giảm thu nhập.

“The effect of firm size on earnings management” - Yangseon Kim và cộng sự (2003), nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy doanh nghiệp nhỏ và lớn đều thao túng lợi nhuận nhằm tránh đưa ra các báo cáo lỗ. Tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp có vai trò khác nhau với hành vi điều chỉnh lợi nhuận, doanh nghiệp nhỏ thường có hành vi điều chỉnh lợi nhuận hơn doanh nghiệp lớn và vừa nhằm tránh báo cáo lỗ. Mặt khác, các doanh nghiệp lớn và vừa lại thao túng lợi nhuận nhiều hơn doanh nghiệp nhỏ nhằm tránh đưa ra các báo cáo có lợi nhuận bị giảm.

“Firm Characteristic Determinants of SMEParticipation in Production Networks” Charles Harvie và cộng sự (2010). Nghiên cứu thực nghiệm về các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) được tham giamạng lưới sản xuất. Nó đo các yếu tố đặc trưng của công ty tham gia SME trong mạng lưới sản xuất.Các điều tra thực nghiệm sử dụng kết quả thu được từ khảo sát Eria về sự tham gia doanh nghiệp vừa và nhỏ trong mạng lưới sản xuất, tiến hành trong khoảng thời gian ba tháng cuối năm 2009 ở hầu hết các nước ASEAN (bao gồm, Thái Lan,Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Campuchia và Lào) và Trung Quốc.Kết quả cho thấy đặc điểm doanh nghiệp như qui mô, yếu tố nước ngoài, đòn bẩy tài chính là những đặc điểm quan trọng củacác công ty tham gia trongmạng lưới sản xuất. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết ủy nhiệm Lý thuyết ủy nhiệm được giới thiệu bởi Jensen and Meckling (1976).

Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (principal) và bên được ủy nhiệm (agent) thông qua hợp đồng, bên được ủy nhiệm thực hiện một số công việc đại diện cho bên được ủy nhiệm.Trong DN mối quan hệ ủy quyền chủ yếu là giữa cổ đông và nhà quản lý. Với phần lớn các công ty đại chúng niêm yết, vấn đề đại diện ngày càng thể hiện rõ rệt vì đa số các công ty đều thuê quản lý và thông thường những người này thường chỉ sở hữu một phần nhỏ cổ phiếu. Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm) đều tối đa hóa lợi ích của mình. Nếu cả hai bên tối đa hóa lợi ích thì nhà quản lý có thể điều hành quản lý dưới sự giám sát của cổ đông.

Do đó mức độ CBTT càng nhiều, càng chi tiết rõ ràng thì càng giảm bớt chi phí nhà quản lý và giảm sự nghi ngờ giữa lợi ích của nhà quản lý và cổ đông.  Chi phí giám sát (Monitoring cost): Là những chi phí do người chủ trả để đo lường, giám sát và kiểm tra hoạt động của người đại diện, như chi phí kiểm toán. Chi phí này có thể gồm các chi phí cho hoạt động kiểm tra giám sát, chi phí ký kết hợp đồng bồi hoàn và cuối cùng là chi phí sa thải đối với người đại diện. Ban đầu những chi phí này do người chủ trả, nhưng Fama và Jensen (1983) cho rằng cuối cùng thì đây là chi phí do người đại diện gánh chịu vì các khoản tiền lương, tiền thưởng, các ưu đãi khác của họ sẽ bị điều chỉnh để bù đắp những chi phí này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng đặc điểm doanh nghiệp đến điều chỉnh lợi nhuận công ty niêm yết tại Việt Nam" phân tích sâu về các yếu tố nội bộ của doanh nghiệp tác động đến việc điều chỉnh lợi nhuận, từ đó giúp nhà quản lý và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về cơ chế vận hành tài chính trong các công ty niêm yết. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về cách các đặc điểm như quy mô, cơ cấu vốn, và quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính, đồng thời đưa ra các gợi ý chính sách để cải thiện hiệu suất kinh doanh.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ kinh tế ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu này tập trung vào vai trò của cơ cấu vốn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu đặc điểm hội đồng quản trị ảnh hưởng đến kết quả tài chính của các công ty niêm yết sở hữu gia đình ở Việt Nam cung cấp thêm góc nhìn về tác động của quản trị doanh nghiệp đến hiệu quả tài chính. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ phát triển tài chính và hiệu lực của chính sách tiền tệ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và chính sách kinh tế vĩ mô.