Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu như: lý do chọn đề tài, mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trên thế giới. Trong phần này, tác giả trình bày tổng quan về lý thuyết vòng đời, kiệt quệ tài chính và tái cấu trúc công ty; Đồng thời tác giả giới thiệu các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới trong thời gian qua.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Phần này đề cập chi tiết về phương pháp nghiên cứu, các bước thực hiện nghiên cứu, xây dựng biến và xử lý dữ liệu đầu vào. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Kết quả từ mô hình sẽ được trình bày trong phần này.
Sau đó là các đánh giá, so sánh và hiệu chỉnh cho mô hình phù hợp hơn với tình hình Việt Nam. Chương 5: Kết luận. Tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu cũng như nêu lên những hạn chế hoặc mở rộng của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Tổng quan các lý thuyết 2.1 Lý thuyết vòng đời Lý thuyết vòng đời cho rằng sự tăng trưởng và các chiến lược hấp thụ vốn là khác nhau ở những giai đoạn khác nhau trong vòng đời của một công ty.
(Anthony và Ramesh 1992), vòng đời đó bao gồm bốn giai đoạn: khởi sự, phát triển, trưởng thành và suy thoái. Mỗi giai đoạn các công ty có biểu hiện khác nhau về cấu trúc, chiến lược tổ chức, và phong cách ra quyết định. Lý thuyết vòng đời của Mueller (1972) Mueller cho rằng mỗi doanh nghiệp có một vòng đời tương đối xác định. Sự không chắc chắn là trở ngại chủ yếu cho việc thành lập một công ty mới hay việc gia nhập vào một ngành khác của một công ty.
Rào cản này sẽ được phá bỏ khi những người sáng lập tin rằng họ có lợi thế đặc biệt hoặc kiến thức cho phép họ nhìn thấu những sự không chắc chắn xung quanh. Thường thì lợi thế đó là những ý tưởng hay phát minh mới, một kỹ thuật marketing mới hay một cấu trúc tổ chức công ty hiệu quả hơn. Trong giai đoạn đầu, công ty đầu tư tất cả nguồn lực để phát triển các sáng chế và cải thiẹ̛n khả na̛ng sinh lợi, đồng thời tạo dựng mợt chỗ đứng trên thị trường. Người sáng lập phải cam kết với những người cung cấp nguồn vốn ban đầu một khoản thanh toán bằng với lãi suất thị trường cộng thêm một khoản cho sự mạo hiểm và nguy cơ phá sản.
Nếu ý tưởng cải tiến là một ý tưởng tốt, công ty sẽ mở rộng và bước qua giai đoạn phát triển. Lúc này công ty tham gia thành công vào thị trường mới và mở rợng khách hàng trước khi các đối thủ cạnh tranh chủ yếu xuất hiẹ̛n. Lợi nhuận mong đợi trên đầu tư giảm dần theo sự giảm của yếu tố rủi ro ban đầu. Trong suốt giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng này, cổ đông sẽ muốn tái đầu tư tất cả vốn và lợi nhuận cho cơ hội tăng trưởng rõ ràng từ ý tưởng mới.
Điều đó cũng có thể dẫn đến nhu cầu tăng thêm nguồn vốn từ bên ngoài trong suốt giai đoạn. 6 Và sự cạnh tranh ngày càng tăng lên, các công ty khác bắt đầu làm theo và cải tiến nhờ vào ý tưởng của người sáng lập ở trên, cơ hội lợi nhuận của công ty bắt đầu giảm dần. Cuối cùng sự bão hòa của thị trường xảy ra, góp thêm vào sự suy giảm lợi nhuận. Trong giai đoạn này, các cổ đông thường không mang tất cả lợi nhuận của họ tái đầu tư và người quản lý muốn tối đa hóa lợi ích của cổ đông sẽ bắt đầu chi trả cổ tức.
Trong các giai đoạn sau này, Muller cũng đã chỉ rõ rằng dòng tiền nội tại cuối cùng đi nhanh hơn các cơ hội đầu tư và chi phí vốn thì giảm tương ứng với sự giảm tính bất ổn. Với thị trường đối với sản phẩm cũ ngày càng sụt giảm, phần lợi nhuận được chuyển vào cổ tức ngày càng tăng. Cuối cùng, vốn cổ phần cũng tiêu hết và ngày cuối cùng của công ty, người sáng lập chi trả dòng lợi nhuận sau tất cả các chi phí cho cổ đông dưới hình thức cổ tức. Theo đó, giá trị chứng khoán nắm giữ rơi xuống 0 và bằng với giá trị sổ sách của tài sản.
Kịch bản tương tự như trên cho các công ty phát triển dòng sản phẩm đa dạng. Khi mà thị trường ngày càng sụt giảm đối với sản phẩm cũ, công ty có thể phát triển khả năng tiến hành những đổi mới để tiến vào những khu vực mới - thường là có liên quan gần với dòng sản phẩm ban đầu. Từ đó, công ty tiến vào những lĩnh vực mới hơn có liên quan với bộ sản phẩm thứ hai. Sự mở rộng và đa dạng hóa này tiếp tục lan rộng từ vị trí xuất phát điểm của công ty.
Suốt quá trình cho đến khi phân quyền cấu trúc tổ chức của công ty. Bất kỳ sự mở rộng nào khác có thể chỉ làm giảm bớt tính hiệu quả trong nội bộ. Các giai đoạn của vòng đời của Miller và Friesen (1984) Các công ty trong giai đoạn khởi sự thường nhỏ, bị chi phối bởi người chủ doanh nghiệp, đơn giản, cấu trúc chưa phân hóa, có hệ thống quyền lực tập trung cao và chú trọng đáng kể vào việc cải tiến. Công ty trong giai đoạn phát triển thường có quy mô trung bình với nhiều cổ đông hơn, và đạt được mức tăng trưởng vượt bật.
Người quản lý chịu trách nhiệm nhiều hơn trong việc ra quyết định, và bắt đầu xuất hiện sự tách biệt giữa những người sở hữu và ban điều hành. 7 Các công ty trưởng thành thì dường như không thích hợp để tiến hành đổi mới hoặc theo đuổi các chiến lược rủi ro bằng các công ty khởi sự và tăng trưởng. Các công ty trưởng thành cố gắng kinh doanh ổn thỏa trong một thị trường xác định. Các công ty trong giai đoạn suy thoái thì rơi vào tình trạng trì trệ và chịu lợi nhuận thấp.
Phần lớn chấp nhận một chiến lược ‘harvest’ khi mà mục tiêu chính là thu lại càng nhiều tiền từ các hoạt động hiện hành càng tốt.1: Xem xét các đặc trưng của các giai đoạn vòng đời Giai đoạn Trạng thái Tổ chức Đổi mới&Chiến lược Khởi sự - Công ty nhỏ - Cơ cấu không quy củ - Cái tiến đáng kể - Trẻ - Chưa phân hóa trong những dòng sản - Bị chi phối bởi sự - Quyền lực tập trung phẩm quản lý của người sở cao - Chiến lược lỗ hổng hữu - Phương pháp xử lý thị trường - Môi trường thuần thông tin và ra quyết - Chấp nhận rủi ro nhất định chưa phát triển thực tế Phát triển - Quy mô vừa - Chuẩn hóa một vài - Mở rộng phạm vi thị - Lâu năm hơn thứ trong cơ cấu trường sản phẩm tiến - Nhiều cổ đông - Chức năng cơ bản gần hơn đến các khu - Môi trường hỗn tạp trong tổ chức vực liên quan và cạnh tranh hơn - Sự phân hóa vừa phải - Gia tăng cải tiến cho - Tập trung hóa giảm đi các dòng sản phẩm. một chút - Tăng trưởng nhanh - Phương pháp xử lý chóng thông tin và ra quyết định bước đầu phát triển. Trưởng thành - Lớn hơn - Cơ cấu quy củ - Chiến lược củng cố - Tiếp tục già đi - Chức năng cơ bản thị trường sản phẩm 8 - Quyền sở hữu bị trong tổ chức - Tập trung vào hiệu phân tán - Sự phân hóa vừa phải quả cung ứng cho thị - Môi trường cạnh - Tập trung hóa vừa trường xác định tranh và càng hỗn tạp phải - Chủ nghĩa bảo thủ hơn - Xử lý thông tin và ra - Tăng trưởng chậm quyết định trong giai hơn đoạn phát triển Phục hồi - Quy mô rất lớn - Sự phân chia cơ bản - Chiến lược đa dạng - Môi trường rất hỗn của tổ chức hóa thị trường sản tạp, cạnh tranh và - Phân hóa cao phẩm, tiến vào một vài năng động - Kiểm soát tinh vi, thị trường không liên xem xét và truyền đạt quan trong xử lý thông tin; - Lên kế hoạch và nhiều thủ tục phân tích chập nhận rủi ro ở hơn trong ra quyết định mức cao - Cải tiến trọng yếu - Tăng trưởng nhanh chóng Suy tàn - Quy mô thị trường - Cơ cấu quy củ - Cải tiến ở mức thấp - Môi trường hỗn tạp - Hầu hết các chức - Cắt giảm giá và cạnh tranh năng cơ bản trong tổ - Thị trường sản phẩm chức hợp nhất - Sự phân hóa và tập - Đóng cửa các công trung hóa vừa phải ty con - Phương pháp ra quyết - Bảo thủ và không định và hệ thống xử lý thích rủi ro thông tin bớt tinh vi hơn - Tăng trưởng chậm Nguồn: Miller, D. A Longitudinal Study Of The Corporate life Cycle.2 Khái niệm kiệt quệ tài chính Chen, Weston, và Altman (1995) định nghĩa kiệt quệ là khi mà một công ty có giá trị thanh lý tổng tài sản ít hơn tổng giá trị yêu cầu của chủ nợ.
Nếu kéo dài, tình trạng này có thể dẫn đến thanh lý bắt buộc hoặc phá sản; Vì lý do này, kiệt quệ tài chính thường được ám chỉ là có nguy cơ phá sản. Altman và Hotchkiss (2006) cho rằng một công ty kinh doanh không thành công được định nghĩa theo nhiều cách để miêu tả quá trình công ty phải đối mặt và phân loại vấn đề kinh tế phức tạp. Bốn từ thường được sử dụng trong là thất bại (failure), mất khả năng trả nợ (insolvency), vỡ nợ (default) và phá sản (bankruptcy). Mặc dù những từ này thỉnh thoảng được dùng để thay cho nhau nhưng chúng vẫn có sự khác biệt trong cách dùng.
Thất bại (failure), xét theo tiêu chuẩn kinh tế thì thất bại có nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận thực tế trên vốn đầu tư liên tục thấp hơn đáng kể so với những khoản đầu tư tương tự khác. Khác hơn tiêu chuẩn kinh tế một chút, thất bại còn được dùng để chỉ việc doanh thu không đủ để bù đắp chi phí và lợi nhuận trung bình trên đầu tư liên tục thấp hơn chi phí vốn của công ty. Trạng thái kinh tế này không nói lên được thực thể đang tồn tại hay đã đình chỉ. Quyết định ngừng hoạt động được căn cứ vào lợi nhuận mong đợi và khả năng bù đắp các chi phí thay đổi của công ty.
Nên lưu ý rằng một công ty có thể thất bại về mặt kinh tế trong nhiều năm, nhưng vẫn đáp ứng được các nghĩa vụ hiện hành vì không có các khoản nợ phải trả sắp đến hạn.