Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Chương 3: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về thanh khoản tại ngân hàng thương mại Chương 4: Phân tích khả năng thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Chương 5: Kết luận và giải pháp nâng cao khả năng thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. 5 CHƯƠNG 2: THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN 2.1 Giới thiệu Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, có tên giao dịch Tiếng Anh là “Sai Gon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank”, tên viết tắt là Sacombank, trụ sở chính của Sacombank đặt tại số 266 - 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TP. Tính đến 31/12/2018, vốn điều lệ của Sacombank là 18.000 đ, hoạt động theo giấy phép thành lập số: 005/GP-UB ngày 03/01/1992 của UBND TPHCM, giấy phép hoạt động: 006/NH-GP ngày 05/12/1991 của Thống đốc NHNN, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 03011033908.
Ngày 21/12/1991, thành lập Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín dựa trên sự hợp nhất giữa Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp, Hợp tác xã tín dụng Tân Bình, Hợp tác xã tín dụng Thành Công và Hợp tác xã tín dụng Lữ Gia, đây là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập tại Tp.HCM với vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng. Năm 1996, Sacombank là ngân hàng đầu tiên phát hành cổ phiếu đại chúng với mệnh giá 200.000 đồng/cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên 71 tỷ đồng với gần 9.000 cổ đông tham gia góp vốn. Sacombank tiếp nhận vốn góp từ cổ đông nước ngoài: Tập đoàn tài chính Dragon Financial Holding (Anh Quốc) năm 2001, Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) năm 2002 và Ngân hàng ANZ năm 2005. Đến năm 2006, Sacombank là Ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam tiên phong niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM với tổng số vốn niêm yết là 1.
Năm 2008, Sacombank đã khai trương chi nhánh tại Lào và thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Campuchia năm 2011. Cùng năm 2011, Sacombank vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba vì có những thành tích đặc biệt xuất sắc giai đoạn 2006 - 2010 theo Quyết định số 2413/QĐ-CTN ngày 15/12/2011. Năm 2015, chi nhánh Sacombank tại Lào được chuyển thành ngân hàng có vốn nước ngoài 100%, sự kiện 6 này được xem như là cột mốc cho sự phát triển Sacombank tại Lào nói riêng, khu vực Đông Dương nói chung. Cuối năm 2015, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín sáp nhập với Ngân hàng TMCP Phương Nam dựa theo Đề án sáp nhập Ngân hàng TMCP Phương Nam vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông bất thường tháng 7 năm 2015, phù hợp với định hướng cơ cấu các TCTD được nêu tại Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015 của Thủ tướng Chính Phủ tháng 3 năm 2012.
Sau sáp nhập, Sacombank vươn lên thuộc một trong năm ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam dựa trên quy mô vốn, mạng lưới hoạt động và đội ngũ nhân sự. Các công ty con trực thuộc: Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản Sacombank – SBA; Công ty Kiều hối Sacombank-SBR; Công ty Cho thuê tài chính Sacombank-SBL: Công ty Chứng khoán Sacombank-SBS.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu Sacombank cung cấp các dịch vụ chính như: Huy động và nhận các nguồn vốn ngắn - trung - dài hạn từ các tổ chức, cá nhân dưới dạng tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi; Cho vay ngắn – trung – dài hạn các tổ chức và cá nhân; Góp vốn và liên doanh theo quy định pháp luật; Chiết khấu các thương phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá; Kinh doanh ngoại hối; Mua bán ngoại tệ; Thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh trong nước, nước ngoài; Thanh toán quốc tế; Bao thanh toán; Chi trả kiều hối; Các dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế; Dịch vụ quản lý tiền mặt, bảo quản tài sản, cho thuê ngăn tủ sắt; Hoạt động ngân hàng điện tử; Hoạt động thẻ; Đại lý bảo hiểm; và các hoạt động khác được phép theo khuôn khổ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.3 Kết quả hoạt động kinh doanh Sau khi bước ra từ ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tài chính vào năm 2008, Sacombank đã có các kết quả hoạt động kinh doanh khá an toàn, cụ thể như sau: Giai đoạn 2015 - 2016 là giai đoạn khó khăn nhưng mặt khác Sacmbank cũng có thêm nhiều cơ hội khi sáp nhập với Ngân hàng TMCP Phương Nam vào 7 cuối năm 2015. Sự sáp nhập làm tổng tài sản, vốn chủ sở hữu tăng đáng kể và mở rộng mạng lưới hoạt động của Sacombank. Tuy nhiên, sau sáp nhập tăng đột biến từ mức 1.523 tỷ đồng năm 2014 lên mức 10.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank giai đoạn 2008 - 2018 ĐVT: tỷ đồng Năm Tổng tài sản Vốn chủ sở Lợi nhuận ROE ROA hữu sau thuế (%) (%) 2008 68.790 2,93 0,44 (Nguồn: Báo cáo thường niên Sacombank giai đoạn 2008-2018) - Về tổng tài sản: Tổng tài sản của Sacombank tăng nhanh những năm 2009- 2010, năm 2009 đạt 104.019 tỷ đồng tăng 52% so với năm 2008 với mức 68.439 tỷ đồng, năm 2010 đạt 152.387 tỷ đồng tăng 46,5% so với năm 2009.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của tình hình khó khăn trong nền kinh tế Việt Nam vào năm 2011, môi trường kinh doanh có nhiều rủi ro, tổng tài sản đã giảm 7,16% so với năm 2010, chỉ còn 141. Những năm sau đó từ 2012 - 2013, nền kinh tế Việt Nam ổn định dần, tổng tài sản của Sacombank tăng nhưng tốc độ tăng không cao cụ thể năm 2012 tốc độ tăng trưởng là 7,53%, năm 2013 tốc độ tăng trưởng là 6,09%, năm 2014 tổng tài sản tăng lên mức 189.803 tỷ đồng tức tăng 17,61% so với năm 2013, đặc biệt riêng năm 2015, do hậu sáp nhập với Ngân hàng TMCP Phương Nam, tổng 8 tài sản Sacombank tăng lên nhanh chóng đạt 292.033 tỷ đồng tăng 54% so với năm 2014 với 189.806 tỷ đồng, năm 2018 tổng tài sản là 406. - Về vốn chủ sở hữu: Tốc độ tăng vốn chủ sở hữu trên 30% những năm 2009 - 2010, năm 2011 đạt 14.547 tỷ đồng tăng 4% so với năm 2010 đạt 14.018 tỷ đồng, năm 2012 đạt 13.699 tỷ đồng giảm 6% so với năm 2011, năm 2013 đạt 17.064 tỷ đồng, tức tăng 25% so với năm 2012, đạt 18.063 tỷ đồng ở năm 2014, tức tăng nhẹ 6% so với năm 2013, cuối năm 2015 Sacombank sáp nhập với Ngân hàng TMCP Phương Nam làm vốn chủ sở hữu tăng mạnh 22% so với năm 2014 đạt 22.080 tỷ đồng, sau đó tăng rất ít 0,5% vào năm 2016 với mức vốn chủ sở hữu 22.192 tỷ đồng, sau đó tăng dần đều cho đến năm 2018, vốn chủ sở hữu đạt 24. - Về lợi nhuận sau thuế: Lợi nhuận sau thuế năm 2009 khá cao với 1.671 tỷ đồng, tăng 75% so với năm 2008, năm 2010 đạt 1.910 tỷ đồng, tăng trưởng hơn 14% so với năm 2009, tiếp tục tăng nhẹ vào năm 2011 đạt 1.996 tỷ đồng, năm 2012 đánh dấu bước khó khăn trong giai đoạn hoạt động do ảnh hưởng khó khăn của nền kinh tế nên lợi nhuận sau thuế chỉ còn 1.002 tỷ đồng, giảm 50% so với năm 2011, năm 2013 đạt mức 2.229 tỷ đồng tăng đột biến 122% so với năm 2012, rồi giảm nhẹ 1% vào năm 2014 với mức 2.206 tỷ đồng, năm 2015 đột ngột giảm mạnh chỉ còn 648 tỷ đồng, giảm 70% so với lợi nhuận sau thuế năm 2014, và giảm xuống mức lợi nhuận thấp nhất trong lịch sử hoạt động của Sacombank chỉ còn 89 tỷ đồng tại năm 2016, và dấu hiệu đáng mừng trong năm 2017, lợi nhuận sau thuế tăng vọt lên 1.182 tỷ đồng, tăng 1.233% so với lợi nhuận sau thuế năm 2016, năm 2018 lợi nhuận sau thuế đạt mức 1.790 tỷ đồng, tăng 52% so với năm 2017.
Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận sau thuế không đều trong giai đoạn 2008-2018 trong đó có thời kỳ lợi nhuận sau thuế giảm đáng kể do hậu sáp nhập với Ngân hàng TMCP Phương Nam. - Về tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản tăng trưởng không đồng đều trong giai đoạn 2008 – 2018, năm 2008 đạt 1,4% có nghĩa là khi đầu tư 1 đồng tài sản sẽ mang về 1.4 đồng lợi nhuận. Năm 2009, ROA đạt mức 1,61% tăng 15,12% so với năm 2008, năm 2010 ROA đạt 1,25% giảm 21,94% 9 so với năm 2009, năm 2011 ROA đạt 1,41% tăng 12,54% so với năm 2010, năm 2012 giảm xuống mức 0,66% tức giảm mạnh 54% so với năm 2011, năm 2013 ROA tăng trưởng lên mức 1,38% tức tăng 110% so với năm 2012, các năm tiếp theo tỷ suất này giảm dần và chạm mức thấp nhất trong lịch sử hoạt động của ngân hàng là 0,03% ở năm 2016 tương đương giảm 87% so với năm 2015, sau đó tăng vượt bậc ở năm 2017 với ROA 0,32% tức tăng 1.100%, năm 2018 ROA tăng lên 0,44%. - Về tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu: tương tự như lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng không đều nhưng thể hiện một đồng vốn tạo ra lợi nhuận được khá cao ở một số năm, năm 2009, tỷ lệ ROE 15,84% có nghĩa rằng 1 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư sẽ thu về 15.84 đồng lợi nhuận.
Năm 2010-2012 tỷ lệ ROE lần lượt giảm chỉ còn 13,72%;13,63%;7,27%, điều này cũng do ảnh hưởng khó khăn của nền kinh tế làm ROE không cao, sau đó tăng đột ngột từ mức 7,27% năm 2012 lên mức 13,06% năm 2013 và lại giảm dần năm tiếp theo đặc biệt vào năm 2015 sau sáp nhập với Ngân hàng TMCP Phương Nam, ROE giảm mạnh chỉ còn 7,32%, năm 2016 ROE giảm tột độ xuống mức 0,4%, đây là mức thấp nhất trong hoạt động của Sacombank, năm 2017 tỷ lệ ROE tăng đột biến lên 5,08% tăng gấp 13 lần so với năm 2016, và giảm xuống chỉ còn mức 2,93% ở năm 2018.2 Những biểu hiện về thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín 2.1 Tồn đọng nợ xấu, trái phiếu đặc biệt Công ty Quản lý tài sản, các khoản lãi dự thu Ngày 13 tháng 6 năm 2017, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s hạ xếp hạng tín nhiệm của Sacombank, cụ thể Moody’s hạ bậc đánh giá tín dụng cơ sở (BCA) từ mức Caa1 xuống mức Caa2, xếp hạng rủi ro hợp tác dài hạn từ B2 xuống B3.