Chương 1: Tổng quan các vấn đề về năng lực tài chính của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng năng lực tài chính của Công ty CP Thương Mại và Dịch Vụ Tiến Thành. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty CP Thương Mại và Dịch Vụ Tiến Thành. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về năng lực tài chính doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về năng lực tài chính của doanh nghiệp Khái quát về năng lực tài chính được hiểu như sau: “Năng lực tài chính là khả năng đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp đề ra”.
Cũng theo đề tài trên, tác giả Phạm Thị Vân Anh xem xét năng lực tài chính doanh nghiệp trên hai góc độ: Năng lực tài chính tổng thể và Năng lực tài chính cho sự tăng trưởng nói riêng. Cụ thể như sau: + Năng lực tài chính tổng thể: Là xem xét toàn bộ năng lực tài chính để thực hiện mục tiêu chung bao trùm là tối đa hóa lợi ích hay tối đa hóa tài sản của chủ sở hữu của doanh nghiệp. Xem xét trên góc độ này, năng lực tài chính của doanh nghiệp bao hàm hai bộ phận cấu thành: năng lực tài chính chủ sở hữu doanh nghiệp và năng lực tài chính từ nợ vay. + Năng lực tài chính cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận cấu thành: năng lực tài chính nội sinh và năng lực tài chính ngoại sinh.
Năng lực tài chính nội sinh cho tăng trưởng của doanh nghiệp là phần lợi nhuận để lại tái đầu tư. Đây chính là bộ phận năng lực tài chính chủ sở hữu nội sinh. Năng lực tài chính ngoại sinh cho tăng trưởng là nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp có khả năng huy động từ bên ngoài doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng. Như vậy có thể nói năng lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ là nguồn 7 lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh.
Năng lực tài chính không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và xu hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp đó.2 Vai trò của việc nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp Tối đa hóa giá trị và đạt được mục tiêu tăng trưởng Khi năng lực tài chính được nâng cao, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều nguồn vốn hơn với chi phí huy động thấp, giảm bớt gánh nặng trả lãi do uy tín của doanh nghiệp tăng lên vì vậy mà doanh nghiệp huy động được đầy đủ, kịp thời lượng vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh với những nguồn vốn có chất lượng cao, chi phí thấp, góp phần giảm chi phí sử dụng vốn bình quân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, khi năng lực tài chính của doanh nghiệp được nâng cao đồng nghĩa với doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo được uy tín đối với nhà cung cấp, khách hàng từ đó nhận được những ưu đãi từ nhà cung cấp, thị trường tiêu thụ mở rộng lại góp phần tăng hiệu quả kinh doanh. Khi đó, mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp được thực hiện, giá trị của doanh nghiệp ngày càng tăng lên và cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng trưởng. Tăng cường khả năng đối phó với những biến động của nền kinh tế Nền kinh tế luôn biến động không ngừng và tính phức tạp của biến động kinh tế ngày càng sâu và rộng khi quy mô hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam đã tăng từ cấp khu vực lên toàn cầu.
Những biến động đó có thể tạo ra cơ hội và những thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, sự sàng lọc khốc liệt của thị trường, cộng với những khó khăn chung của nền kinh tế trong thời kỳ lạm phát đã khiến các doanh nghiệp ở hầu hết các lĩnh vực đều phải đối mặt với tình trạng đình trệ và có nguy cơ phá sản. Khó khăn chính mà doanh nghiệp Việt Nam phải 8 đối mặt là tình trạng thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng, sức tiêu thụ giảm. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của giá cả thị trường khiến cho đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn và đã gây áp lực trực tiếp lên doanh nghiệp.
Việc nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp doanh nghiệp đối phó tốt với những khó khăn hiện nay. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – WTO, Hiệp định thương mại tự do – EVFTA, CPTPP, Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều những cơ hội lớn, hướng tới sự hội nhập và phát triển toàn diện, sánh vai cùng với các cường quốc trên thế giới hiện nay. Đồng thời với các cơ hội đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp rất nhiều thách thức.
Trong không ít những thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải đó chúng ta phải kể đến ở đây đó là sự xâm nhập của các công ty nước ngoài vào nước ta, cùng với sự xâm nhập này kéo theo sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty nước ngoài nhằm tìm chỗ đứng cho mình tại thị trường Việt Nam. Nếu các doanh nghiệp không có những chiến lược đúng đắn, có tiềm lực tài chính vững mạnh thì với xu thế hiện nay, các doanh nghiệp rất có thể bị đánh bật ra khỏi thị trường trong nước và nhường chỗ cho các công ty nước ngoài. Vì vậy việc nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững trước những yêu cầu của hội nhập. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có thể tận dụng được những cơ hội mà hội nhập mang lại để phát triển, nâng cao vị thế của mình trong nước cũng như trên trường quốc tế.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp Thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính, có thể xác định năng lực tài chính của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại.
Đồng thời các chỉ tiêu tài chính cũng tạo điều kiện cho việc so sánh “sức khỏe” của doanh nghiệp giữa các thời kỳ và so sánh với các 9 doanh nghiệp khác hay giá trị trung bình của ngành. Hệ thống chỉ tiêu tài chính dùng để đánh giá năng lực tài chính thường được chia thành các nhóm như sau: 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh cấu trúc nguồn vốn và tài sản Cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp được đo lường thông qua các chỉ tiêu như tỷ suất nợ, tỷ suất tự tài trợ hay tỷ suất nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu. Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô vốn so với quy mô tài sản, quy mô nợ so với vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, là bằng chứng về khả năng hoàn trả các khoản nợ của doanh nghiệp trong dài hạn.
Tỷ suất nợ Tỷ suất nợ bằng tỷ số giữa tổng số nợ phải trả với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Tổng số nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả. Chủ nợ thường ưa thích doanh nghiệp có tỷ suất nợ thấp vì như vậy doanh nghiệp có khả năng trả nợ cao hơn. Ngược lại, các cổ đông muốn có tỷ suất nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lời cho cổ đông.
Tuy nhiên muốn biết tỷ suất nợ là cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ suất nợ của bình quân ngành. Tỷ suất nợ càng thấp mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản. Rất khó có thể đánh giá được mức độ vay nợ phù hợp với doanh nghiệp hay tỷ suất nợ như thế nào là tốt đối với một doanh nghiệp, vì tỷ suất nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay, thời kỳ hoạt động kinh doanh… Tỷ suất nợ = = 1 - Tỷ suất tự tài trợ Tỷ suất tự tài trợ Nhìn tổng thể, nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Do đó, có thể xem xét cơ cấu nguồn vốn thông qua hệ số vốn chủ sở hữu hay tỷ suất tự tài trợ.
Sử dụng tỷ suất tự tài trợ để đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Thông thường một doanh nghiệp có hệ số tự tài trợ 10 cao được đánh giá là ít bị phụ thuộc vào chủ nợ trong hoạt động kinh doanh và do vậy dưới góc độ các chủ nợ, món nợ của họ càng được đảm bảo an toàn. Tỷ suất tự tài trợ = = 1 - Tỷ suất nợ Cơ cấu tài sản phản ánh khi doanh nghiệp sử dụng bình quân một đồng vốn kinh doanh thì dành ra bao nhiêu để đầu tư để hình thành tài sản ngắn hạn, còn bao nhiêu để đầu tư vào tài sản dài hạn. Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn và tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn sẽ phản ánh việc bố trí cơ cấu tài sản của doanh nghiệp.
Tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn = = 1 - Tỷ suất đầu tư TSNH Tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn = = 1 - Tỷ suất đầu tư TSDH Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn phản ánh mức độ đầu tư vào TSCĐ của doanh nghiệp. Tỷ suất này phản ánh khi doanh nghiệp sử dụng bình quân một đồng vốn kinh doanh thì dành ra bao nhiêu đồng để đầu tư vào TSCĐ. Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn càng lớn càng thể hiện mức độ quan trọng của TSCĐ trong tổng tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào kinh doanh; phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để kết luận chỉ tiêu này là tốt hay xấu còn tùy thuộc vào ngành kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời gian cụ thể.