Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học (Mã số: 9 31 02 01) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trịnh Thị Xuyến tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2022), mang tựa đề: "Sự ảnh hưởng của văn hóa chính trị đối với tiến trình dân chủ ở Việt Nam hiện nay". Luận án được triển khai trong bối cảnh khoa học chính trị thế giới bước vào giai đoạn tái đánh giá sâu sắc sau sự thoái trào của làn sóng dân chủ thứ ba. Thực tiễn chính trị toàn cầu đã phủ định tính phổ quát đơn tuyến của mô hình dân chủ tự do phương Tây, đồng thời bác bỏ quan điểm cực đoan của thuyết tương đối văn hóa. Luận án xác lập một hướng tiếp cận tiên phong mang tính dung hòa: chuyển dịch câu hỏi nghiên cứu từ việc "chấp nhận hay bác bỏ dân chủ" sang "mô hình dân chủ nào hoạt động hiệu quả và có tính chính đáng trong một bối cảnh văn hóa chính trị cụ thể".

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) trọng tâm được xác định rõ: Mặc dù các công trình học thuật trong nước đã tiếp cận văn hóa chính trị hoặc tiến trình dân chủ dưới góc độ đơn lẻ, song vẫn thiếu vắng một công trình liên ngành hệ thống hóa tường minh các chiều cạnh văn hóa chính trị đặc trưng của Việt Nam và giải mã cơ chế tác động hai chiều (tương thích và bất tương thích) của các giá trị đó lên tiến trình dân chủ hóa từ thời kỳ Đổi mới (1986) đến nay.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết được định hình cụ thể:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Văn hóa chính trị Việt Nam được đặc trưng bởi những hệ giá trị ưu tiên cốt lõi nào khi đối chiếu với các chiều cạnh văn hóa chính trị quốc tế?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Các giá trị văn hóa chính trị đặc trưng đó tác động, quy định và định hình tiến trình dân chủ ở Việt Nam hiện nay theo những phương thức, cơ chế nào?
  • Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Tồn tại mối tương quan cấu trúc giữa trật tự ưu tiên của các giá trị văn hóa chính trị nội sinh với sự lựa chọn, vận hành và mức độ tiếp nhận mô hình dân chủ tại Việt Nam.
  • Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam hàm chứa đồng thời các yếu tố thúc đẩy (tính cộng đồng, tinh thần hòa hiếu, đồng thuận) và các yếu tố cản trở (tâm lý ỷ lại, trọng thứ bậc gia trưởng, chủ nghĩa bình quân cào bằng) đối với việc hoàn thiện thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp lý thuyết văn hóa công dân của Gabriel Almond và Sidney Verba, lý thuyết dân chủ sống (vital democracy) của Frank Hendriks, cùng hệ thống chiều cạnh văn hóa của Geert Hofstede, Shalom Schwartz và Ammar Maleki. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ tiến trình dân chủ hóa tại Việt Nam từ dấu mốc Đổi mới năm 1986 đến nay, với kết cấu hàn lâm gồm 4 chương và 12 tiết, mang lại ý nghĩa đột phá trong việc xây dựng luận cứ khoa học phục vụ hoàn thiện thể chế dân chủ và hoạch định chính sách quản trị quốc gia.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn trong luận án được cấu trúc thành ba dòng chảy học thuật chủ đạo:

Dòng chảy thứ nhất: Lý thuyết văn hóa chính trị và sự tiến hóa của các hệ hình. Nghiên cứu khởi nguồn từ các công trình kinh điển của Gabriel Almond và James Coleman (1960), phát triển vượt bậc qua tác phẩm nền tảng The Civic Culture của Gabriel Almond và Sidney Verba (1963), cùng ấn phẩm Political Culture and Political Development của Lucian Pye và Sidney Verba (1965). Sau giai đoạn bị chủ nghĩa thể chế và lý thuyết lựa chọn hợp lý chỉ trích vào thập niên 1970 do thiên lệch chọn mẫu đô thị, văn hóa chính trị đã trải qua giai đoạn phục hưng rực rỡ từ cuối thập niên 1980 với Ronald Inglehart (The Renaissance of Political Culture, 1988; Culture Shift in Advanced Industrial Society, 1990), Howard J. Wiarda (1989), và David Landes (The Wealth and Poverty of Nations, 1998). Đặc biệt, công trình lượng hóa Cultures and Organizations: Software of the Mind của Geert Hofstede (1991, 2001) và dự án GLOBE (2004) đã cung cấp công cụ phân tích xuyên quốc gia chuẩn mực.

Dòng chảy thứ hai: Các lý thuyết và mô hình dân chủ. Y văn ghi nhận cuộc tranh luận kéo dài giữa thuyết dân chủ tinh hoa cạnh tranh của Joseph Schumpeter (1942), lý thuyết dân chủ đa trị (Polyarchy) của Robert Dahl (1956, 1971, 1982), và mô hình dân chủ thảo luận của C.B. Macpherson (1977) cùng Carole Pateman (1970). Khảo cứu của David Held (Models of Democracy, 2006) và Frank Hendriks (Vital Democracy, 2010) đã hệ thống hóa các biến thể thể chế từ dân chủ trực tiếp đến gián tiếp, từ nguyên tắc đa số đến đồng thuận. David Collier và Steven Levitsky (1997) phân loại thang bậc dân chủ theo thủ tục, song đã được William Turley (2009) tái định vị như những yếu tố cốt lõi không mang tính thứ bậc tất định.

Dòng chảy thứ ba: Tương tác giữa văn hóa chính trị và tiến trình dân chủ. Các tranh luận nổi bật giữa luận thuyết phương Tây hóa của Francis Fukuyama (1989, 1992) và thuyết xung đột văn minh của Samuel Huntington (1991, 1996); các nghiên cứu thực nghiệm xuyên quốc gia của Inglehart & Welzel (2005), Davide Ticchi, Thierry Verdier & Andrea Vindigni (2013); và khung phân tích tích hợp của Ammar Maleki & Frank Hendriks (2014, 2018).

Về mặt định vị nghiên cứu, tác giả đối chiếu trực tiếp với hai nghiên cứu quốc tế điển hình:

  1. Trường hợp phân hóa vùng miền tại Italy của Robert Putnam (1993) trong Making Democracy Work: Putnam chứng minh truyền thống công dân và vốn xã hội (social capital) tích lũy từ thời Trung cổ tại miền Bắc Italy tạo tiền đề cho thể chế dân chủ hoạt động hiệu quả hơn hẳn cấu trúc thứ bậc thân hữu tại miền Nam. Luận án tiếp thu luận điểm rằng thể chế phi chính thức biến đổi chậm hơn thể chế chính thức và có xu hướng quay lại định hình cách vận hành của thể chế chính thức.
  2. Trường hợp cấu trúc văn hóa chính trị của Canada theo phân tích của Nelson Wiseman (2007): Canada là sự dung hợp ba mảnh vỡ tư tưởng di dân: chủ nghĩa Tory bảo thủ (trọng trật tự, thứ bậc, cộng đồng), chủ nghĩa tự do cổ điển (trọng cá nhân, duy lý), và chủ nghĩa xã hội. Điều này chứng minh một nền dân chủ có thể vận hành ổn định dựa trên sự cộng hưởng của nhiều hệ giá trị truyền thừa.

Luận án định vị bản thân tại điểm giao thoa giữa kinh tế chính trị Marx-Lenin và chính trị học so sánh hiện đại, khắc phục khoảng trống khi áp dụng các mô hình đo lường phương Tây vào thể chế chính trị một đảng cầm quyền tại Việt Nam.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mang lại bước tiến lý luận quan trọng thông qua việc tái cấu trúc các lý thuyết văn hóa chính trị phương Tây để giải thích quá trình vận động thể chế tại một quốc gia đang phát triển:

  • Mở rộng lý thuyết Văn hóa công dân của Almond & Verba: Luận án chứng minh rằng ba dạng định hướng chính trị gồm nhận thức (cognitive), cảm nhận (affective), và đánh giá (evaluative) không tồn tại biệt lập mà liên kết chặt chẽ với các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Đúng như Gabriel Almond đã đúc kết: "Mỗi một hệ thống chính trị đều bắt rễ từ trong một loại định hướng xác định riêng; tôi phát hiện điều này rất hữu dụng và gọi nó là văn hóa chính trị" [tr. 35]. Sự chuyển hóa từ văn hóa chính trị tuân thủ (subject culture) sang văn hóa chính trị tham gia (participant culture) tại Việt Nam không diễn ra qua xung đột triệt để mà thông qua cơ chế tích hợp lý tính và thích ứng thể chế.
  • Bổ sung chức năng chính trị - xã hội của văn hóa theo quan điểm Karl Marx: Luận án khẳng định văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng nhưng có tính độc lập tương đối sâu sắc. Theo quan điểm của Karl Marx, văn hóa là lĩnh vực hoạt động mà nhờ đó "con người sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình với tư cách là một thực thể xã hội" [tr. 21-22]. Văn hóa chính trị vận hành như một thể chế phi chính thức định hình tính chính đáng chính trị (political legitimacy) và khuôn mẫu ứng xử của công dân.
  • Tiếp biến lý thuyết Dân chủ sống của Frank Hendriks: Luận án bảo vệ luận điểm của Frank Hendriks rằng "văn hóa xã hội và văn hóa chính trị là nền tảng của các mô hình dân chủ" [tr. 25], đồng thời chứng minh tại Việt Nam, sự kết hợp giữa mô hình dân chủ tham gia và dân chủ đồng thuận phù hợp với căn tính văn hóa hơn mô hình dân chủ đa số cạnh tranh đối kháng.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp có chọn lọc các lý thuyết của Geert Hofstede, Shalom Schwartz, Dự án GLOBE và Ammar Maleki, rút gọn thành 3 cặp chiều cạnh văn hóa chính trị cốt lõi có năng lực giải thích cao nhất đối với tiến trình dân chủ ở Việt Nam:

Tác giả luận chứng sâu sắc dựa trên nhận định của Clifford Geertz rằng văn hóa: "là khuôn mẫu do lịch sử để lại về ý nghĩa kết tinh trong các biểu tượng, là hệ thống các quan niệm truyền thống được thể hiện qua hình thức các biểu tượng, nhờ đó con người giao tiếp, duy trì và phát triển tri thức về đời sống và thái độ đối với đời sống của mình" [tr. 34] và "văn hóa được nhìn nhận tốt nhất không phải là phức hợp của các kiểu hành vi cụ thể... mà nói chung cho đến nay nó vẫn là một tập hợp các cơ chế kiểm soát - khuôn khổ, công thức, phép tắc, chỉ dẫn - nhằm điều chỉnh hành vi" [tr. 34-35].

Luận án khẳng định tính trung tính của văn hóa: văn hóa không phân chia theo trục nhị phân "cao - thấp" hay "tốt - xấu" mang tính định kiến phổ quát, mà là sự khác biệt về trật tự sắp xếp thứ tự ưu tiên các giá trị giữa các dân tộc, như nhận định của Hồ Sỹ Quý và Ngô Đức Thịnh: "Rất hiếm có giá trị đặc thù về tính cách con người chỉ riêng biệt thuộc về một dân tộc nào đó… Vấn đề là ở chỗ, cái khác nhau giữa các bảng giá trị, trước hết là khác nhau về vị trí của từng giá trị" [tr. 36].

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng lập trường nhận thức luận Hiện thực phản biện (Critical Realism) kết hợp với Thuyết diễn giải (Interpretivism). Thiết kế nghiên cứu định tính đa tầng (multi-level qualitative design) được thiết lập nhằm kết nối giữa cấu trúc vĩ mô (thể chế chính trị, đường lối đổi mới của Đảng) với hành vi vi mô (thái độ, nhận thức và sự tham gia chính trị của người dân tại cộng đồng cơ sở).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu tuân thủ chặt chẽ các chuẩn mực khoa học thông qua nguyên tắc Tam giác đạc (Triangulation):

  • Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Phối kiểm đa nguồn giữa văn kiện chính trị, báo cáo tổng kết thực tiễn 30 năm Đổi mới, các khảo sát xã hội học quy mô lớn (World Values Survey - WVS, Khảo sát Hành vi Lãnh đạo và Tổ chức Toàn cầu - GLOBE), và các công trình nhân học văn hóa kinh điển (Pierre Gourou, Paul Giran, Lương Đức Thiệp, Phan Ngọc).
  • Tam giác đạc liên ngành (Theory/Investigator Triangulation): Tích hợp công cụ phân tích của Chính trị học, Văn hóa học, Xã hội học chính trị và Nhân học văn hóa nhằm giải mã toàn diện các hiện tượng chính trị phức hợp.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thu thập ý kiến định tính chuyên sâu từ các nhà khoa học đầu ngành về chính trị học, văn hóa học và các chuyên gia quản trị công tại Việt Nam nhằm kiểm định tính xác thực của các luận điểm.

Data và phân tích

Luận án khai thác hệ thống dữ liệu thứ cấp từ các tập hợp mẫu đại diện xuyên quốc gia trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, nơi các chiều cạnh văn hóa chính trị chiếm trên 70% phương sai trong hơn 20 biến số giá trị được kiểm định [tr. 43]. Dữ liệu lịch sử - chính trị Việt Nam giai đoạn 1986–2022 được phân tích theo tiến trình thời gian và đối chiếu so sánh nhằm bóc tách các pha chuyển dịch nhận thức từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế dân chủ hóa đời sống xã hội.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Tính hai mặt của giá trị "Trọng cộng đồng" đối với dân chủ cơ sở: Tinh thần cộng đồng làng xã truyền thống tạo nền tảng vững chắc cho sự đồng thuận chính trị, huy động sức mạnh tập thể và phát huy hiệu quả phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Tuy nhiên, mặt trái của nó là sự dung dưỡng tâm lý cào bằng, triệt tiêu động lực sáng tạo cá nhân, và tạo mảnh đất cho chủ nghĩa cục bộ địa phương ("phép vua thua lệ làng").
  2. Sự tương thích cấu trúc giữa "Trọng trật tự thứ bậc" với thể chế một đảng cầm quyền: Phân tích thực chứng chỉ ra người Việt Nam duy trì sự tôn trọng cao đối với quyền lực nhà nước chính đáng và vai trò lãnh đạo tập trung của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này đảm bảo sự ổn định chính trị - tiền đề tối thượng cho phát triển kinh tế suốt 35 năm Đổi mới. Ngược lại, tính bất tương thích xuất hiện khi tâm lý gia trưởng, phục tùng thụ động cản trở việc thực thi quyền lực giám sát và phản biện xã hội độc lập của công dân.
  3. Ưu tiên mô hình Dân chủ đồng thuận thay vì Dân chủ cạnh tranh đa nguyên: Do chịu ảnh hưởng sâu đậm của truyền thống "Trọng hài hòa", xã hội Việt Nam có xu hướng khước từ các hình thức cạnh tranh chính trị đối kháng gay gắt vốn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn và chia rẽ dân tộc. Người dân ưu tiên các cơ chế đối thoại, hiệp thương chính trị (thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân) nhằm đạt được sự đồng thuận chung.
  4. Sự trỗi dậy của các giá trị dân chủ thực chất thời kỳ hậu Đổi mới: Dưới tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, văn hóa chính trị Việt Nam đang chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của định hướng tham gia (participant orientation), từng bước đẩy lùi định hướng thờ ơ (parochial) và biến đổi định hướng tuân thủ thuần túy (subject).

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Cung cấp cơ sở khoa học khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng nền dân chủ mang đặc trưng văn hóa - lịch sử bản địa, phản bác các quan điểm rập khuôn mô hình dân chủ phương Tây vào Việt Nam.
  • Về mặt thể chế và lập pháp: Cung cấp luận cứ trực tiếp phục vụ việc thể chế hóa Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (năm 2022), đổi mới quy trình tiếp xúc cử tri, nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
  • Về mặt quản trị và giáo dục chính trị: Đề xuất lộ trình giáo dục văn hóa công dân mới: chuyển hóa tâm lý "dĩ hòa vi quý" tiêu cực thành tinh thần tranh luận khoa học, xây dựng văn hóa pháp quyền và ý thức tự giác công dân.

Limitations và Future Research

  • Hạn chế nghiên cứu: Do tiếp cận văn hóa chính trị ở cấp độ quốc gia phổ quát, luận án chưa bóc tách sâu sắc sự phân hóa giá trị giữa các tiểu vùng văn hóa (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) cũng như sự khác biệt giữa các thế hệ (đặc biệt là thế hệ Gen Z trong kỷ nguyên số). Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định tính và dữ liệu thứ cấp sẵn có.
  • Định hướng nghiên cứu tương lai:
    1. Triển khai các cuộc điều tra xã hội học định lượng quy mô quốc gia bằng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để lượng hóa chính xác trọng số tác động của từng chiều cạnh văn hóa lên chỉ số phát triển dân chủ.
    2. Nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa chính trị trong môi trường không gian mạng và chính phủ số.
    3. Khảo sát so sánh chuyên sâu giữa Việt Nam và các quốc gia có bối cảnh tương đồng trong khối ASEAN (như Singapore, Malaysia).

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực trong hệ thống đào tạo lý luận chính trị cao cấp và sau đại học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các viện nghiên cứu chuyên ngành.
  • Ảnh hưởng chính sách: Đóng góp luận cứ khoa học thực chứng cho các cơ quan hoạch định chiến lược của Đảng (Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Dân vận Trung ương) trong việc xây dựng hệ giá trị quốc gia và hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới.
  • Lợi ích xã hội: Thúc đẩy nhận thức đúng đắn của cán bộ, đảng viên và nhân dân về quyền làm chủ thực chất, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Nắm bắt khung phân tích liên ngành chuẩn mực giữa Chính trị học và Văn hóa học, tiếp cận hệ thống y văn quốc tế đồ sộ về dân chủ hóa.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lý luận chính trị: Khai thác tư liệu giảng dạy cho các học phần Chính trị học so sánh, Văn hóa chính trị, và Xây dựng Đảng.
  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị: Vận dụng các phát hiện nghiên cứu để đổi mới phương thức lãnh đạo, giải quyết hài hòa các mâu thuẫn xã hội tại cơ sở, nâng cao năng lực quản trị công.
  • Nhà hoạch định chính sách: Sử dụng các khuyến nghị để xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với tâm lý, tập quán và văn hóa chính trị của nhân dân.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của nghiên cứu là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Luận án đã mở rộng Lý thuyết Dân chủ sống của Frank Hendriks và Khung chiều cạnh văn hóa của Ammar Maleki bằng cách tích hợp chúng vào phân tích thể chế chính trị một đảng cầm quyền tại Việt Nam. Nghiên cứu chứng minh rằng văn hóa chính trị đóng vai trò như một bộ lọc thể chế (institutional filter), quyết định sự thành bại của việc tiếp nhận và vận hành các cơ chế dân chủ.

2. Điểm đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam?
Trả lời: Thay vì tiếp cận văn hóa chính trị theo lối quy nạp lịch sử thuần túy hoặc mô tả định tính chung chung, luận án đã lượng hóa và chuẩn hóa các giá trị văn hóa thành 3 cặp chiều cạnh lưỡng cực có tính so sánh quốc tế cao (kế thừa Hofstede, Schwartz, GLOBE), giúp phân tích chính xác mức độ tương thích và bất tương thích với tiến trình dân chủ.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu là gì?
Trả lời: Giá trị "Trọng trật tự thứ bậc" - vốn thường bị các học giả phương Tây coi là rào cản tuyệt đối của dân chủ - lại đóng vai trò là nhân tố bảo đảm ổn định vĩ mô, tạo điều kiện tiên quyết để mở rộng dân chủ thực chất từng bước tại cơ sở mà không gây ra những cú sốc đứt gãy xã hội.

4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lặp (replication protocol) không?
Trả lời: Luận án thiết lập hệ thống tiêu chí lựa chọn chiều cạnh văn hóa rõ ràng (tính phổ biến quốc tế, khả năng giải thích tiến trình dân chủ, tính phù hợp với mẫu nghiên cứu), cung cấp khung phân tích chuẩn hóa giúp các nhà nghiên cứu khác có thể áp dụng để đánh giá văn hóa chính trị ở các địa phương hoặc các quốc gia chuyển đổi khác.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
Trả lời: Tập trung vào việc xây dựng Bộ chỉ số Văn hóa chính trị Việt Nam (Vietnam Political Culture Index - VPCI) định kỳ, khảo sát tác động của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đối với hành vi tham gia chính trị của công dân trẻ.

Kết luận

  1. Luận án đã giải quyết thành công bài toán lý luận và thực tiễn về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa chính trị và tiến trình dân chủ tại Việt Nam giai đoạn 1986–2022.
  2. Xác lập hệ thống 3 cặp chiều cạnh văn hóa chính trị đặc trưng của Việt Nam: Trọng cộng đồng – Trọng cá nhân; Trọng trật tự thứ bậc – Trọng đồng đẳng; Trọng hài hòa – Trọng cạnh tranh.
  3. Luận giải thuyết phục cơ chế tác động hai chiều: làm rõ các giá trị đóng vai trò động lực thúc đẩy và nhận diện các giá trị cản trở tiến trình dân chủ hóa.
  4. Chứng minh tính ưu việt và sự phù hợp của mô hình Dân chủ tham gia kết hợp Dân chủ đồng thuận đối với bối cảnh chính trị - xã hội Việt Nam hiện nay.
  5. Mở ra 3 hướng nghiên cứu học thuật mới: Văn hóa chính trị số, Đo lường định lượng vốn xã hội trong quản trị công, và Mô hình hóa sự tương thích thể chế tại các nước Đông Á.
  6. Đóng góp hệ thống khuyến nghị chính sách toàn diện phục vụ công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.