CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số kết quả nghiên cứu về ray mềm (Aphis gossypii) 1.1 Khái quát về ray mềm (Aphis gossypii) (Nguồn: Nguyễn Thi Hoàng Nhuy) Ray mềm Aphis gossypii (Homoptera: Aphididae) thuộc bộ Homoptera, ho Aphididae. Được coi là một trong những loài rệp đa thực nhất. Đây là loài có phân bó rất rộng và da ký chủ tấn công nhiều loại rau màu như bau, bi, dưa, cây có múi. Chủ yếu tập trung phát sinh, phát triển khi điều kiện thời tiết khô và ít mưa.
Theo Nguyễn Thi Chat (2006), ray mềm A. gossypii xuất hiện ở rất nhiều nước trên thế giới, chúng phân bố từ 60° vĩ Bắc đến 40° vĩ Nam bao gồm các nước vùng Trung Á, Trung Quốc, và các nước Đông Nam Á.2 Đặc điểm hình thái, sinh học và tập quán gây hại Ray mềm Aphis gossypii có cơ thé hình bầu dục, thành trùng có 2 dang có cánh và không có cánh. Dạng có cánh cơ thể dài từ 1,2- 1,8mm, rộng từ 0,4 — 0,7mm, đầu và ngực có màu nâu đen, bụng màu vàng nhạt có khi xanh đậm, phiên lưng ngực trước 4 màu nâu đen , mắt kép to, ống bụng đen (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen 2011). Dạng không có cánh cơ thé dai từ 1,5 - 1,9mm va rộng từ 0,6 — 0,8mm , toàn thân màu xanh đen, xanh thâm và có phủ sáp, một ít cá thé có dang màu vàng xanh.
Râu đầu có 6 đốt. Theo viện Bảo vệ thực vật (2003), rầy mềm dạng không cánh có màu sắc thay đổi tùy theo loại cây ký chủ và mùa vụ. Ở vùng khí hậu nhiệt đới ray mềm chủ yếu sinh sản đơn tính và đẻ con, mỗi con cái đẻ trung bình 40 con. Chu kì sinh trưởng kéo dài từ 7 — 9 ngày.
Nhiệt độ tối hảo cho sự sinh sản từ 21° — 27°C. Theo Rosenheim (1994) trong quan thé mùa xuân, rệp thường có màu sam hơn và có thể lớn gấp đôi cá thể mùa hè, có tốc độ sinh sôi nảy nở suốt mùa hè gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế. Trong điều kiện nhiệt đới chủ yếu đẻ con với vòng đời như sau: Tuôi 1: Au trùng có màu xanh nhạt sau đó chuyền sang màu vàng và cudi cùng là nâu nhạt. Cơ thể có đốt rõ ràng, râu đầu có 5 đốt.
Thời gian phát triển từ 1 —2 ngày. Tuôi 2: Thân sẽ có màu hoi xám, cạnh ngoài mau trắng nhạt. Rau đầu có 5 đốt, ống bụng màu đen. Thời gian phát triển từ 1 — 2 ngày.
Tuổi 3: Tuổi này phân biệt được hai dạng au trùng có cánh va không có cánh nhờ mầm cánh xuất hiện và râu đầu tăng lên 6 đốt. Thời gian phát triển từ 1 -2 ngày. Tuổi 4: Mầm cánh rõ ràng, cả hai dạng au tring đều có màu xám đậm. Thời gian phát triển từ 2 — 3 ngày.
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), khả năng sinh sản của hai loài có cánh và không có cánh khác biệt nhau. Trong đó, dạng có cánh có khả năng sinh sản kém hơn dạng không có cánh trung bình khoảng 4 con. Dạng không có cánh đẻ trung bình từ 50 — 60 ấu trùng và đẻ vào ngày thứ 2 sau giai đoạn vũ hóa.3 Đặc điểm gây hại Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003) cả giai đoạn au trùng và thành trùng thường tập trung dưới mặt lá, nhất là đọt non, bông, chồi. Chúng chủ yêu hút nhựa dé bổ sung dinh dưỡng làm cho các phần này bị xoăn lại hoặc để lại các vết màu thâm đen trên lá, đặc biệt nghiêm trọng hơn có thể truyền bệnh virus cho cây trồng như tristeza trên họ cam quýt, virus khảm dưa chuột.
Trên dưa, ray gây hại trầm trọng, nếu tân công vào các dây chèo hay đỉnh sinh trưởng với số lượng lớn sẽ làm cho cây sinh trưởng kém, rụng hoa, rụng quả, năng suất thấp và kém chất lượng. Theo Bastiaan (1996) chất dịch thải của chúng tạo ra loại nắm mốc màu đen (Canodium spp.) phủ lên bề mặt của lớp dịch. Kết qua làm ngăn cản quá trình quang hợp, tổng hợp đường của cây. Mặt khác, lớp dịch này còn thu hút thêm các loại côn trùng khác như kiến đen, ruồi.
Ray gây hai từ khi cây có hai lá mầm đến khi thu hoạch, nhất là vào giai đoạn đậu trái. Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), những cây bị rầy mềm chích hút gây ra bệnh virus trên cây sau chết đi, sẽ không lây nhiễm qua thế hệ sau.4 Biện pháp phòng trừ Biện pháp canh tác: Trồng xen canh, luân canh với cây trồng khác. Theo Potts và Gunadi (1991), sự giảm sút rầy mềm trên khoai tây khi trồng xen canh với hành hoặc tỏi. Biện pháp sinh học: Theo TA và B (1997), loài côn trùng Chrysoperla carnea trong ho Chrysopidae có thể làm giảm tổng số lượng rầy mềm khi được nuôi trên cánh đồng bông tại California.
Một số loài săn môi nói chung thuộc cánh nữa (Geocoris ochropterus, Nabis spp. Và Zelus spp.) ăn rệp, bọ cánh cứng. Tất cả các loại săn mỗi này làm giảm quan thé rệp mặc dù không có loài nào hiệu qua như C. Ray mềm do ong bắp cày ký sinh (Aphidius colemani) có sức 6 sinh sản 0,5 — 1,3 nhộng/con cái khi ký sinh ở tuổi 4 và 10,5 — 13,3 nhộng/con khi ký sinh ở giai đoạn trưởng thành.
Những con rệp sống sót sau khi bị tấn công có khả năng sinh sản thấp hơn nhưng tuôi thọ không thay đổi. Theo Ebert và Cartwringht (1997), trong điều kiện nhà kính Cephalosporium lecanii là nguyên nhân gây tử vong cho rệp nhưng chưa có báo cáo của nó đối với rệp ngoài đồng ruộng.2 Bọ xít mắt to Geocoris sp.1 Phân loại Hinh 1. 2 Bo xit mat to Geocoris ochropterus Fieber (N guon: Nguyễn Thị Anh Đào) Bọ mắt to Geocoris ochropterus Fieber thuộc ngành Euarthropoda, lớp Insecta, bộ Hemiptera, họ Lygaeidae.2 Sự phân bố và ký chủ Bọ xít mắt to Geocoris ochropterus là loài côn trùng nhỏ hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới. Phân bé tại Texas, Colorado, Hawai của Mỹ và các vùng phía nam như Guatemala, Canada và Panama.
Chúng là loài đa thực có lợi, có thể ăn vô số côn trùng nhỏ gây hại trên cây trồng. Theo York (1944) đã chỉ ra rang Geocoris ochropterus sử dụng thức ăn là thực vật, nhưng rất dé bị ảnh hưởng bởi thuốc trừ sâu.3 Đặc điểm hình thái Quá trình sinh trưởng và phát triển của bọ xit mắt to (Geocoris ochropterus) thuộc kiểu biến thái không hoàn toàn (trứng > ấu trùng thành trùng). Vòng đời của bọ xít mắt to (Geocoris ochropterus) được thê hiện như sơ đồ sau: Trứng 4— 7 ngày 6—9 ngày ® Thành trùng Âu trùng tuổi 1 Š—9 ngày @ 4-7 ngày na Au trùng tuổi 5 Au trùng tuổi 2 4—9 ngày ` 2-6 ngay Au tring tuổi 4 Au trùng tuổi 3 3— 9 ngày Hình 1. 3 Vòng đời của bọ xít mắt to (Geocoris ochropterus) (Trần Thị Nga Em, 2012) Theo Hagler và Sanchez (2011), trứng có màu trắng đục, hình bầu dục, dần chuyển sang màu hồng nhạt khi gần nở và xuất hiện điểm mắt màu đỏ tươi bên trong trứng.
Au trùng có hình dạng giống như thành trùng, nhưng có kích thước nhỏ hơn và không có cánh phát triển đầy đủ. Thành trùng và ấu trùng có hình bầu dục, có mau nâu sam đến đen, có phần đầu rộng, đôi mắt kép to va lồi. Rau đầu tương đối ngắn và to về phía phần đầu. Miệng có dạng vòi hút, hình kim dài.
Vòi hút rất linh hoạt, vươn dài ra khi hút dịch cơ thể con mồi. Theo Ricardo (2011), thành trùng có màu đen sam , cánh màu xám bạc , dai 3 — 5 mm. Thành trùng cái có kích thước lớn hơn thành trùng đực, thành trùng đực có phần cuốn bụng nhỏ và dài hơn thành trùng cái. Ngoài ra, có thé nhận biết được qua màu ở giữa đôi mắt kép.
Thành trùng đực có màu vàng và thành trùng cái có mùa vàng cam đến cam.4 Đặc điểm sinh học Bọ mắt to Geocoris ochropterus sinh sản quanh năm và nhiều, thường đẻ trứng trên cỏ, cây hoặc bụi rậm. Theo Ricardo (2011), thành trùng chủ yếu đẻ trứng vào mùa xuân và nở tùy theo điều kiện nhiệt độ thông thường khoảng 10 ngày. Giai đoạn ấu trùng có 5 tuổi, kéo dai khoảng 20 ngày tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ, các giai đoạn kéo dài từ 4 — 6 ngày (Mead, 2017). Theo Nguyễn Văn Chính (2018), cho thấy nhiệt độ thích hợp nhất là 27°C và am độ là 80% khi cho ăn ray xanh hai chấm Amrasca devastans thì con trưởng thành có chiều dài cơ thé là 3,55 + 1,5 mm, chiều ngang 1,65 + 0,5 mm, thời gian phat dục cua pha trứng 7,4 + 0,18 ngày.
Thời gian hoàn thành vòng đời là 31,9 + 1,23 ngày. Tuổi thọ trung bình là 45,3 + 1,42 ngày. Số trứng đẻ trung bình một con cái là 77,4 + 7,63 trứng, tỉ lệ trứng nở 84,5%. Theo Funderburk (2003), thành trùng của bọ xít mắt to đẻ khoảng 75 — 150 trứng, số lượng trứng ít hay nhiều phụ thuộc vào con mỗi và chu kì sống kéo dài khoảng 3 tuần.
Theo Ramirez (2011), bọ mắt to có thẻ ăn những con côn trùng có kích thước nhỏ như nhện, ray mềm, ray phan trang, sâu non. Ngoài ra, khi chúng thiếu thức ăn chúng có thé hút mật hoa hoặc nhựa cây dé ton tại nhung kha nang gây hai cho cây trồng không dang kẻ.5 Khả năng sử dụng bọ xit mắt to Geocoris ochropterus trong phòng trừ sinh học Baldwin (2013) đã chỉ ra rang, bo mắt to Geocoris ochropterus là loài côn trùng săn moi ăn tạp, pho biến có hành vi ăn thực vật. Một số nghiên cứu đã điều tra Geocoris ochropferus đóng vai trò là tác nhân kiểm soát sinh học trong nông nghiệp và tầm quan trọng của chúng với tư cách là tác nhân bảo vệ gián tiếp thực vật trong tự nhiên. Geocoris ochropterus nhạy bén với thị giác va khứu giác khi tìm kiếm và lựa chọn con môi.
Theo tạp chí Nghiên cứu Côn trùng học và Động vật học (2016), việc sử dụng thiên địch Geocoris ochropterus là phương pháp thân thiện với môi trường 9 dé kiểm soat dịch hại bọ trĩ, bọ phan trắng trên cây bông vải thay vì sử dung thuốc trừ sâu tác động đến khả năng tăng sức đề kháng đối với thuốc trừ sâu. Theo Nguyễn Ngọc Bảo Châu và Lê Thụy Tố Như (2023) bọ mắt to có tiềm năng kiểm soát sinh học hiệu quả, cả giai đoạn ấu trùng và thành trùng có thé ăn hàng chục con mỗi mỗi ngày. Trong vòng 24h bọ mắt to có thé tiêu diệt trung bình 12,7 + 2,51; 21,33 + 1,52; 31,33 + 2,08; 40 + 2; 40 +1,15 ray mém với ti lệ bo xit mắt to: ray mém 1a 1:20; 1:30, 1:40, 1:50, 1:60.