Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến sinh kế của hộ nông dân tỉnh Điện Biên" do nghiên cứu sinh Trần Bá Uẩn thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Song, chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (mã số: 9 62 01 15), bảo vệ năm 2022.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới Tây Bắc có trên 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, nền kinh tế còn chậm phát triển với tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 chiếm tới 33,97% (44.387 hộ) và thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 29,7 triệu đồng/năm. Mặc dù sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú và hệ thống di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ, các sinh kế của nông hộ vẫn phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông - lâm nghiệp truyền thống. Số hộ có sinh kế liên quan đến du lịch mới chiếm khoảng 40% và phân bổ không đồng đều. Trong bối cảnh du lịch tỉnh có bước tăng trưởng đáng kể (năm 2019 đón 845 nghìn lượt khách, tổng thu đạt 1.366 tỷ đồng), yêu cầu đặt ra là phải đánh giá một cách có hệ thống mức độ ảnh hưởng của ngành kinh tế này đến sinh kế nông hộ nhằm tìm ra căn cứ khoa học cho các can thiệp chính sách.

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của phát triển du lịch tới sinh kế hộ nông dân là gì?
  2. Phát triển du lịch ảnh hưởng như thế nào tới sinh kế của hộ nông dân tại tỉnh Điện Biên?
  3. Những giải pháp cụ thể nào nhằm tăng cường ảnh hưởng tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của phát triển du lịch đến sinh kế hộ nông dân tỉnh Điện Biên?

Mục tiêu chung của luận án là xác định các yếu tố và đánh giá ảnh hưởng của phát triển du lịch tới sinh kế hộ nông dân tỉnh Điện Biên, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sinh kế bền vững. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của phát triển du lịch tới sinh kế hộ nông dân.
  2. Đánh giá tổng quát thực trạng phát triển du lịch tỉnh Điện Biên và mức độ tham gia của hộ nông dân vào kinh doanh dịch vụ du lịch.
  3. Phân tích sự ảnh hưởng của phát triển du lịch tới sinh kế hộ nông dân tỉnh Điện Biên theo các nguồn vốn và kết quả sinh kế.
  4. Đề xuất các giải pháp tăng cường ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của phát triển du lịch tới sinh kế hộ nông dân trên địa bàn.

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về sinh kế, tác động của phát triển du lịch đến toàn bộ các yếu tố sinh kế (nguồn vốn sinh kế, kết quả sinh kế) và các giải pháp can thiệp. Đối tượng điều tra gồm các chủ hộ nông dân đại diện cho các nhóm kinh tế - xã hội khác nhau và cán bộ quản lý các cấp tại địa phương. Phạm vi không gian tập trung tại tỉnh Điện Biên, trọng tâm là 3 địa bàn đại diện: Thành phố Điện Biên Phủ, Huyện Điện Biên và Huyện Mường Nhé. Phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 2016 đến 2020; số liệu thứ cấp thu thập giai đoạn 2015 - 2020; số liệu sơ cấp điều tra trong các năm 2019 và 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu trong luận án hệ thống hóa các công trình quốc tế và trong nước tiếp cận mối quan hệ giữa du lịch và sinh kế:

Nghiên cứu quốc tế:

  • Tại Trung Quốc, Fujun (2009) vận dụng khung sinh kế bền vững (SLA) vào giảm nghèo qua du lịch; Su và cộng sự (2015) tại vùng Jixian phân loại nông hộ thành 4 nhóm (lao động, du lịch, bán thời gian du lịch và không du lịch) kết hợp GIS; Mingming và cộng sự (2018) chỉ ra tác động hai mặt của du lịch tại các khu di sản; Shen và cộng sự (2019) đánh giá chỉ số sinh kế (LCI) theo tính thời vụ.
  • Tại Ấn Độ, Khima và cộng sự (2014) tại hồ Dodital chỉ ra 60% hộ tham gia du lịch có thu nhập cao hơn hộ thuần nông; Anjalia & Tiwari (2014) tại vườn quốc gia Kanha ghi nhận sự chuyển dịch đất nông nghiệp sang cơ sở lưu trú (giảm từ 91% xuống 19%).
  • Tại khu vực Đông Nam Á, Dressler & Fabyinyi (2011), Inge de Boer (2012) tại vịnh Honda (Philippines) ghi nhận sự chuyển đổi từ đánh bắt thủy sản sang dịch vụ du lịch; Elske (2018), Tomankova (2018) tại Indonesia phân tích vai trò của du lịch như một sinh kế bổ sung tại Lombok và Bukit Lawang; Yin Soriya (2006) tại Campuchia chỉ ra sự phân hóa thu nhập và áp lực môi trường từ du lịch nông thôn.
  • Tại Nhật Bản, Bixia Chen và cộng sự (2018) nghiên cứu nông thôn có dân số già, chứng minh du lịch cải thiện vốn tự nhiên, vốn xã hội và giảm đất hoang hóa. Tại Nigeria, Henry (2012) khảo sát 410 hộ cho thấy 74,55% hộ chịu áp lực khan hiếm đất do du lịch.

Nghiên cứu trong nước:

  • Dương Hoàng Hương (2016) tại Phú Thọ nghiên cứu việc làm bản địa chiếm 68,7% và bảo tồn văn hóa Mường, hát Xoan.
  • Mai Lệ Quyên (2017) tại Quảng Trị so sánh cơ hội thu nhập giữa nông nghiệp và dịch vụ du lịch.
  • Lê Ngọc Thảo (2018) tại Cù Lao Chàm (Quảng Nam) chỉ ra người dân chỉ nhận dưới 10% doanh thu chuỗi du lịch.
  • Vũ Thị Hoài Thu (2013), Lê Ánh Dương (2017), Nguyễn Hải Núi và cộng sự (2018) nghiên cứu chuyển đổi sinh kế trong các bối cảnh sinh thái ven biển và phụ thuộc rừng.
  • Võ Thị Thu Ngọc (2018) tại Thừa Thiên Huế đánh giá du lịch bền vững; Thi Thu Huong Hoang và cộng sự (2020) tại Sa Pa phân 487 hộ thành 3 nhóm sinh kế và đo lường độ che phủ đất; Ngô Thị Liên (2018) so sánh nhận thức giữa hộ kinh doanh và không kinh doanh du lịch.
  • Đặng Thị Diệu Trang và cộng sự (2013, 2019), Lê Anh Tuấn & Nguyễn Thị Hồng Tâm (2013) làm rõ sự biến đổi văn hóa tộc người; Đỗ Hải Yến (2017) và Bùi Văn Mạnh (2020) đánh giá biến động 5 nguồn vốn sinh kế tại các khu du lịch.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở mô tả định tính hoặc phân tích thống kê đơn biến, chưa kết hợp định lượng chỉ số ảnh hưởng sinh kế (LEI) với kỹ thuật phân cụm hộ và hàm biệt số để so sánh đa chiều giữa các nhóm nông hộ miền núi Tây Bắc - nơi chịu đặc thù về địa hình chia cắt, đa dạng dân tộc và tỷ lệ nghèo cao. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này tại địa bàn tỉnh Điện Biên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên Khung sinh kế bền vững của DFID (1999) cùng các quan điểm nền tảng của Chambers & Conway (1991), Ellis (1993, 2000) và Scoones (1998). Cấu trúc khung phân tích bao gồm:

  • Bối cảnh tổn thương (thiên tai, biến động thị trường, tính mùa vụ du lịch).
  • 5 nguồn vốn sinh kế: Vốn con người (Human capital), Vốn tự nhiên (Natural capital), Vốn vật chất (Physical capital), Vốn tài chính (Financial capital), Vốn xã hội (Social capital).
  • Thể chế, chính sách và quy trình quản lý điểm đến.
  • Các chiến lược sinh kế thích ứng của nông hộ.
  • Kết quả sinh kế (thu nhập, an ninh lương thực, giảm tính dễ bị tổn thương, tính bền vững môi trường).
Thành phần nguồn vốn sinh kế Các chỉ tiêu thành phần được sử dụng trong đánh giá
Vốn con người Trình độ học vấn của chủ hộ và lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo/tập huấn du lịch, sức khỏe, kỹ năng giao tiếp.
Vốn tự nhiên Diện tích đất canh tác, đất ở, khả năng tiếp cận và chất lượng nguồn nước sinh hoạt/sản xuất, cảnh quan môi trường.
Vốn vật chất Nhà ở, phương tiện đi lại, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt và kinh doanh du lịch, máy móc công cụ sản xuất.
Vốn xã hội Mối quan hệ xóm giềng, sự tham gia vào các hội nhóm/đoàn thể địa phương, mức độ hỗ trợ tương hỗ, bảo tồn bản sắc văn hóa.
Vốn tài chính Thu nhập bình quân tháng, cơ cấu thu nhập từ du lịch, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng, quy mô tiền tiết kiệm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp chọn điểm và thu thập dữ liệu: Chọn 3 địa bàn đặc trưng gồm Thành phố Điện Biên Phủ (trung tâm đô thị - di tích), Huyện Điện Biên (vùng lòng chảo - du lịch cộng đồng/nông nghiệp), Huyện Mường Nhé (khu bảo tồn thiên nhiên - vùng cao biên giới). Thu thập số liệu thứ cấp từ Cục Thống kê, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND các cấp giai đoạn 2015 - 2020. Dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra khảo sát bảng hỏi cấu trúc đối với các chủ hộ nông dân và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý địa phương trong năm 2019 - 2020.

  2. Phương pháp phân tích chỉ số ảnh hưởng sinh kế (LEI - Livelihood Effect Index): Các chỉ tiêu thành phần ($I_d$) được chuẩn hóa theo công thức: $$I_d = \frac{S_d - S_{min}}{S_{max} - S_{min}}$$ Giá trị từng nguồn vốn chính ($M_d$) tính bằng bình quân gia quyền của các chỉ tiêu thành phần: $$M_d = \frac{\sum_{i=1}^{n} I_{di}}{n}$$ Chỉ số LEI tổng hợp của địa bàn $d$ được xác định theo trọng số số lượng chỉ tiêu của 5 nguồn vốn: $$LEI_d = \frac{\sum_{i=1}^{5} w_{Mi} M_{di}}{\sum_{i=1}^{5} w_{Mi}}$$ Giá trị LEI dao động từ 0 đến 1, phân thành các cấp độ ảnh hưởng: Thấp (0 - 0,33), Trung bình (0,34 - 0,66), Cao (0,67 - 1,0).

  3. Phương pháp phân nhóm (Clustering) và Phân tích hàm biệt số (Discriminant Analysis): Phân chia nông hộ thành 4 nhóm dựa trên mức độ phụ thuộc thu nhập vào du lịch:

  • Nhóm 1: Thu nhập từ du lịch chiếm dưới 15% tổng thu nhập.
  • Nhóm 2: Thu nhập từ du lịch chiếm từ 15% đến dưới 50%.
  • Nhóm 3: Thu nhập từ du lịch chiếm từ 50% đến 85%.
  • Nhóm 4: Thu nhập từ du lịch chiếm trên 85%.

Sử dụng phân tích hàm biệt số với kiểm định Wilk's Lambda, giá trị Eigenvalues và ma trận cấu trúc (Structure Matrix) để kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm hộ dựa trên các biến số nguồn vốn và kết quả sinh kế. Sử dụng kiểm định Chi-square kiểm tra mối liên hệ giữa loại hộ và các biến định tính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của phát triển du lịch tới sinh kế hộ nông dân

Chương này luận giải các khái niệm cốt lõi: du lịch theo Luật Du lịch 2017 và UNWTO; sản phẩm du lịch với cấu thành dịch vụ chiếm 80 - 90% giá trị; các loại hình du lịch; bản chất của phát triển du lịch là sự gia tăng quy mô gắn liền chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khái niệm sinh kế hộ nông dân được định nghĩa theo DFID (1999) và Ellis (1993), làm rõ đặc thù sinh kế nông thôn gắn với tài nguyên, tính dễ bị tổn thương trước rủi ro và các rào cản tiếp cận nguồn lực.

Tác giả phân tích khung tác động toàn diện của phát triển du lịch trên 6 phương diện: thay đổi lý sinh (sử dụng đất, áp lực tài nguyên nước, môi trường), thay đổi chính trị (quy hoạch, phân quyền quản lý), thay đổi kinh tế (việc làm, thu nhập, tính mùa vụ, lạm phát cục bộ), thay đổi xã hội (trình độ, phân tầng giàu nghèo), thay đổi văn hóa (giao lưu văn hóa, nguy cơ thương mại hóa bản sắc) và thay đổi tâm lý. Chương 1 cũng tổng kết các bài học kinh nghiệm từ các nghiên cứu quốc tế (Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Nhật Bản) và Việt Nam (Phú Thọ, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Lào Cai), từ đó xác lập khoảng trống khoa học cho đề tài.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên: diện tích tự nhiên rộng, địa hình đồi núi dốc, giao thông kết nối liên vùng còn khó khăn nhưng có lợi thế cửa ngõ quốc tế với Lào và Trung Quốc. Cơ cấu kinh tế năm 2019: khu vực dịch vụ chiếm 55,3%, nông lâm thủy sản chiếm 19,34%, công nghiệp - xây dựng chiếm 25,36%.

Chương này thiết lập chi tiết khung phân tích của luận án, quy trình chọn mẫu điều tra và phương pháp luận tính toán chỉ số LEI. Tác giả xây dựng bảng danh mục các biến số đại diện cho 5 nguồn vốn sinh kế, quy chuẩn hóa dữ liệu, xác định hệ thống bảng hỏi điều tra hộ và cán bộ quản lý. Quy trình phân tích định lượng qua mô hình biệt số được thiết lập với các kiểm định thống kê chuẩn xác, đảm bảo độ tin cậy trong xử lý số liệu sơ cấp và thứ cấp.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được:

  1. Thực trạng du lịch Điện Biên giai đoạn 2015 - 2019: Lượng khách du lịch tăng từ 420 nghìn lượt (2015) lên 845 nghìn lượt (2019), trong đó khách quốc tế đạt 183 nghìn lượt. Tổng thu du lịch tăng từ 560 tỷ đồng lên 1.366 tỷ đồng (tăng trưởng bình quân đạt trên 18%/năm), giải quyết việc làm cho trên 14 nghìn lao động.
Chỉ tiêu du lịch tỉnh Điện Biên Năm 2015 Năm 2017 Năm 2019
Tổng lượt khách (nghìn lượt) 420 600 845
- Khách quốc tế (nghìn lượt) 75 115 183
- Khách nội địa (nghìn lượt) 345 485 662
Tổng doanh thu du lịch (tỷ đồng) 560 910 1.366
Lao động ngành du lịch (người) 8.500 11.200 14.000
  1. Mức độ tham gia và ảnh hưởng đến các nguồn vốn sinh kế:
  • Vốn con người: Du lịch thúc đẩy các khóa tập huấn chuyên môn giai đoạn 2014 - 2019, nâng cao kỹ năng giao tiếp và nhận thức giáo dục, nhưng tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo bài bản còn thấp.
  • Vốn tự nhiên: Cải thiện cảnh quan môi trường tại điểm tham quan; tuy nhiên xuất hiện tình trạng giảm quỹ đất sản xuất nông nghiệp do chuyển đổi mục đích và giải phóng mặt bằng, cùng áp lực gia tăng rác thải, nước thải.
  • Vốn vật chất: Hộ tham gia du lịch đầu tư nâng cấp nhà ở, công trình vệ sinh, trang bị phương tiện đi lại và máy móc dịch vụ vượt trội so với hộ thuần nông.
  • Vốn xã hội: Mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội, phục dựng lễ hội và văn hóa truyền thống dân tộc Thái, Mông; tuy nhiên mối quan hệ gắn kết cộng đồng truyền thống có xu hướng giảm nhẹ do cạnh tranh kinh tế.
  • Vốn tài chính: Tăng thu nhập, tăng khả năng tích lũy và mở rộng tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng chính thức.
  1. Kết quả tính toán chỉ số LEI và phân tích nhóm hộ: Chỉ số LEI tổng hợp tại cả 3 địa bàn (TP. Điện Biên Phủ, H. Điện Biên, H. Mường Nhé) đều đạt mức ảnh hưởng trung bình (nằm trong khoảng 0,34 - 0,66). Phân tích hàm biệt số chỉ ra sự khác biệt rõ nét giữa 4 nhóm hộ:
Nhóm hộ nông dân Tỷ trọng thu nhập du lịch Đặc trưng nguồn vốn sinh kế nổi trội Kết quả sinh kế chính
Nhóm 1 Dưới 15% Vốn tự nhiên (đất sản xuất nông nghiệp lớn), hạn chế về vốn vật chất và tài chính. Thu nhập thấp, phụ thuộc mùa vụ nông nghiệp, dễ bị tổn thương.
Nhóm 2 15% - dưới 50% Ưu thế về quỹ đất hỗn hợp và vốn con người (lao động trẻ, linh hoạt). Sinh kế đa dạng hóa, giảm rủi ro nông nghiệp.
Nhóm 3 50% - 85% Ưu thế về nguồn nước (vốn tự nhiên), vốn xã hội và khả năng tiếp cận vốn vay. Thu nhập ổn định, tích lũy tài chính khá.
Nhóm 4 Trên 85% Ưu thế vượt trội về vốn vật chất (tiện nghi, cơ sở dịch vụ) và vốn tài chính. Thu nhập cao nhất, chuyển dịch hoàn toàn sang phi nông nghiệp.

Kiểm định Wilk's Lambda đạt mức ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$), khẳng định tính phân tách rõ ràng của mô hình biệt số giữa các nhóm hộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn về mối quan hệ tác động hai chiều giữa phát triển du lịch và sinh kế hộ nông dân tại khu vực miền núi.
  • Xây dựng khung phân tích tích hợp Khung sinh kế bền vững (DFID) với phương pháp tính chỉ số ảnh hưởng sinh kế (LEI), kết hợp phân cụm sinh kế (Livelihood clustering) và hàm biệt số (Discriminant analysis) để định lượng hóa tác động sinh kế ở cấp độ nông hộ.
  • Bổ sung hệ thống chỉ tiêu đo lường tác động của du lịch đến 5 nguồn vốn sinh kế phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc.

Đóng góp mới về thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về thực trạng tham gia hoạt động du lịch của nông hộ tỉnh Điện Biên giai đoạn 2015 - 2020.
  • Đo lường mức độ ảnh hưởng của du lịch đến sinh kế thông qua chỉ số LEI tại 3 địa bàn nghiên cứu, chỉ ra sự phân hóa giữa các nhóm hộ có mức độ phụ thuộc du lịch khác nhau.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp có tính phân hóa:
    1. Giải pháp thể chế, chính sách: Hoàn thiện quy hoạch du lịch gắn với bảo tồn đất sản xuất; chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho hộ dân tộc thiểu số làm du lịch cộng đồng.
    2. Giải pháp nguồn vốn sinh kế: Tăng cường đào tạo nghề du lịch (vốn con người); bảo vệ nguồn nước và xử lý chất thải (vốn tự nhiên); hỗ trợ đầu tư hạ tầng homestay đạt chuẩn (vốn vật chất); phát triển hợp tác xã du lịch cộng đồng để củng cố liên kết (vốn xã hội).
    3. Giải pháp theo nhóm hộ: Định hướng hộ nhóm 1 tham gia chuỗi cung ứng nông sản cho du lịch; hỗ trợ hộ nhóm 2 và 3 chuẩn hóa dịch vụ lưu trú; hỗ trợ hộ nhóm 4 nâng cao năng lực quản trị rủi ro kinh doanh và liên kết thị trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát tập trung tại 3 đơn vị hành chính đại diện (TP. Điện Biên Phủ, Huyện Điện Biên, Huyện Mường Nhé), chưa bao quát toàn bộ 10 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Điện Biên.
  • Khảo sát sơ cấp thực hiện trong năm 2019 - 2020, giai đoạn bắt đầu chịu tác động của dịch bệnh đối với ngành du lịch, có thể tạo ra những biến động ngắn hạn trong cơ cấu thu nhập của hộ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng đánh giá tác động sinh kế dài hạn trong điều kiện phục hồi sau các cú sốc kinh tế và biến đổi khí hậu.
  • Nghiên cứu sâu về chuỗi giá trị du lịch nông nghiệp - sinh thái và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa doanh nghiệp lữ hành với cộng đồng bản địa từng dân tộc cụ thể (Thái, Mông, Hà Nhì).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn và Du lịch học: Giá trị tham khảo lớn nằm ở phương pháp tính toán chỉ số LEI, quy trình xây dựng bảng hỏi và kỹ thuật ứng dụng mô hình hàm biệt số trong phân loại hộ.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND các cấp tỉnh Điện Biên và các tỉnh vùng Tây Bắc): Cung cấp luận cứ thực chứng để xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, nông thôn mới gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số ảnh hưởng sinh kế (LEI) trong luận án được tính toán dựa trên các thành phần nào?

Chỉ số LEI được tính toán dựa trên việc chuẩn hóa các chỉ số thành phần thuộc 5 nguồn vốn sinh kế cốt lõi theo khung DFID: Vốn con người (học vấn, đào tạo du lịch, sức khỏe), Vốn tự nhiên (đất đai, nguồn nước, môi trường), Vốn vật chất (nhà ở, phương tiện, tiện nghi sinh hoạt và kinh doanh), Vốn xã hội (mối quan hệ cộng đồng, tham gia hội nhóm, bảo tồn văn hóa) và Vốn tài chính (thu nhập, tiếp cận vốn vay, tiền tiết kiệm). Kết quả LEI tại 3 địa bàn nghiên cứu của tỉnh Điện Biên đều đạt mức ảnh hưởng trung bình (từ 0,34 đến 0,66).

2. Phát triển du lịch mang lại những tác động tiêu cực nào tới nguồn vốn sinh kế của nông hộ Điện Biên?

Bên cạnh các tác động tích cực về tăng thu nhập và nâng cao kỹ năng, luận án chỉ ra các tác động tiêu cực gồm: làm giảm quỹ đất sản xuất nông nghiệp của một bộ phận hộ do giải phóng mặt bằng; gia tăng ô nhiễm môi trường, rác thải và áp lực lên nguồn nước sinh hoạt; làm tăng chi phí sinh hoạt cục bộ do giá cả hàng hóa leo thang; làm suy giảm tính gắn kết cộng đồng truyền thống do xuất hiện sự cạnh tranh kinh tế giữa các hộ kinh doanh.

3. Sự khác biệt cơ bản giữa 4 nhóm hộ nông dân phân theo tỷ lệ thu nhập du lịch là gì?

Nhóm 1 (<15% thu nhập du lịch) chiếm diện tích đất sản xuất lớn nhất nhưng thu nhập và tiện nghi vật chất thấp nhất. Nhóm 2 (15% - 50%) có ưu thế về vốn con người và đất đai hỗn hợp. Nhóm 3 (50% - 85%) có thế mạnh về vốn xã hội, tiếp cận vốn vay và nguồn nước. Nhóm 4 (>85%) có thu nhập cao nhất, sở hữu trang thiết bị vật chất tốt nhất và chuyển dịch gần như hoàn toàn sang kinh doanh dịch vụ.

4. Tình hình phát triển du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2015 - 2019 đạt được kết quả cụ thể ra sao?

Trong giai đoạn 2015 - 2019, lượng khách đến Điện Biên tăng từ 420 nghìn lên 845 nghìn lượt (khách quốc tế đạt 183 nghìn lượt); doanh thu du lịch tăng từ 560 tỷ đồng lên 1.366 tỷ đồng (tăng trưởng bình quân trên 18%/năm); số lao động làm việc trong ngành du lịch tăng từ 8.500 người lên trên 14.000 người, đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ của tỉnh đạt 55,3% năm 2019.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Bá Uẩn đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của phát triển du lịch đến sinh kế nông hộ tại tỉnh Điện Biên. Bằng việc kết hợp phương pháp tính chỉ số ảnh hưởng sinh kế (LEI) với phân tích phân cụm và hàm biệt số, công trình đã làm rõ thực trạng biến động của 5 nguồn vốn sinh kế cũng như kết quả sinh kế giữa các nhóm hộ có mức độ tham gia du lịch khác nhau. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng du lịch đã tạo ra động lực kinh tế tích cực nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức về đất đai, môi trường và gắn kết xã hội. Hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và du lịch bền vững cho địa phương.