Chương 1. Một số khái niệm cơ bản và khái quát về Phật giáo Hàn Quốc. Ảnh hưởng của Phật giáo trong một số nghi lễ vòng đời Hàn Quốc. Ảnh hưởng của Phật giáo đến một số lễ hội và hoạt động đời sống thường nhật của người dân Hàn Quốc.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO HÀN QUỐC 1. Một số khái niệm cơ bản Trước khi đi vào giải quyết những mục tiêu mà luận văn đã đặt ra, rất cần thiết để chúng ta xác định và giới thuyết rõ một số khái niệm cơ bản mà luận văn cần phải đề cập. Khái niệm về Phong tục và Tập quán Phong tục là gì? Thoạt tiên, chúng ta điểm qua ý kiến của các tác giả nước ngoài. Danh từ phong tục tương đương với các chữ Mœurs (theo tiếng Pháp), Customs (theo tiếng Anh).
Người Pháp đã có các định nghĩa cho chữ Mœurs như sau: – “Habitudes naturelles ou acquises, pour le bien ou pour le mal dans la conduite de la vie”. – “Habitudes considérées par rapport au bien ou mal dans la conduite de la vie”. – “usages particuliers à un pays”. – “Habitudes naturelles ou acquises relatives à la pratique (Ị bien et du mal, au point de vue de la conscience et de la naturelle”.
– Usages particuliers à un pays ou à une classe”3. – “Habitudes de vie, coutumes d‟un peuple, d‟une société”4 (Thói quen trong đời sống, tập tục của một dân tộc, một xã hội). Trong khi đỏ, người Hoa Kỳ định nghĩa Custom như sau: 2 Dictionnaire de français Larousse, Paris, 2010. 3 Dictionnaire de l’Académie française, huitième édition, 1932-1935 (mœurs) 4 « mos », dans Felix Gaffiot, Dictionnaire latin français, Hachette, 1934.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Frequent or common use or practice; a frequent repetition of the same act; usage; habit (Sự dùng hay thực hành thường xuyên hay thông thường; một sự lập lại thường xuyên của hành động như cũ; cách cư xử; thói quen). Established usage; social conventỉons carried on by radition and enforced by social dỉsapproval of any violation”5 (Cách cư xử đã được thể hiện từ lâu; tập quán xã hội lưu truyền qua truyền thống và được thực thi bởi sự bất chấp nhận của xã hội về bất cứ vi phạm nào). Và người Anh định nghĩa Custom (trong Oxford Advanced Leamer’s Dictionary) đã được Viện Ngôn ngữ học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) dịch ra là: “Cách cư xử, làm việc thông thường được mọi người chấp nhận từ lâu đời; tục lệ; phong tục”.
Trở về với từ điển Việt Nam, chúng ta thấy Đào Duy Anh đã cho phong tục là “thói quen trên xã hội”. Hoàng Thúc Trâm định nghĩa đầy đủ hơn: “Chỉ những cái biểu hiện nhất trí về tinh thần của số đông người, trải qua lâu đời, đúc thành khuôn khổ nhất định, đủ ràng buộc hành vi và chi phối cuộc đời thực tế của cá nhân”. Thanh Nghị thì vắn tắt: “Thói sống quen của một dân tộc”. Và Nguyễn Văn Khôn đúc kết phong tục là “Thói quen chung của số đông như nhiều người từ lâu đòi đức thành khuôn khổ nhất định”6.
Trong cuốn Phong tục tập quán Ấn Độ của Đỗ Thu Hà mới đây, tác giả viết7: “Phong tục là mô hình ứng xử của một nhóm người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và không bị quyết định bởi những đặc tính sinh học của nhóm người đó. Vì xã hội thay đổi liên tục nên dù sự thay đổi đó diễn ra chậm đến mức nào thì về cơ bản, các phong tục luôn có tính tạm thời, không vĩnh cửu. Nếu những phong tục đó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, chúng có thể được coi là một thứ “thời trang” trong ứng xử. Các phong tục tạo nên cốt lõi văn hóa của loài người và mạnh mẽ hơn, Cialdini, R.
(2003) "Crafting normative messages to protect the environment". Current Directions in Psychological Science, 12(4), 105–109. "The silence of the library: Environment, situational norm, and social behavior". Journal of Personality and Social Psychology, 84(1), 18–28.
7 Đỗ Thu Hà, Phong tục tập quán Ấn Độ, NXB. Đại học Quốc gia, 5/2013, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lâu bền hơn trong các xã hội tiền công nghiệp, ở vùng nông thôn hơn ở thành thị. Khi được hợp thức hóa trong môi trường xã hội và tôn giáo, nó sẽ dẫn đến đạo đức và khi được đem thi hành theo những khía cạnh về quyền lợi và nghĩa vụ, phong tục sẽ trở thành luật pháp.
Có người chiết tự rằng: “"Phong" là nền nếp đã lan truyền rộng rãi, “Tục" là thói quen lâu đời. Nội dung phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt xã hội.”8 Có định nghĩa khác về phong tục như: “Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất”9”.
Tổng kết lại, sau khi điểm qua nhiều định nghĩa, chúng ta có thể viết: Phong tục là các thói quen từ lâu đời của đại đa số cá nhân trong một xã hội hay một quốc gia được đúc kết thành những mẫu mực lưu truyền từ đời này qua đời khác, cỏ khả năng ràng buộc ảnh hưởng đến đời sống cá nhân trong xã hội hay quốc gia đó, và cũng bị thay đổi dần dần theo thời gian. Chính Boirleau, một nhà văn Pháp đã nói đến đặc tính biến đổi của phong tục: “Chaque âge a ses plaisirs, son esprit de ses mœurs”- tạm dịch nghĩa là Tuổi trẻ theo đuổi sự hưởng thụ, tuổi già theo sau phong tục. Nói đến phong tục mà chúng ta bỏ quên danh từ tập quán e là một thiếu sót vì hai danh từ này thường đi đôi và có nhiều tương quan. Tập quán là gì? Theo Dictionnaire de Académie Française, tập quán là “Habitude contactée dans les mœurs, dans les manières, dans les discours, dans les actions”10.
9 Phong tục- Bách khoa toàn thư Việt Nam. "An explication of social norms". TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Manière à laquelle la plupart se conforment” (Thể cách mà đại đa số phải thích ứng theo) đó là định nghĩa tập quán của E. Còn từ điển Larousse Universel lại cho tập quán là “Habitude, usage… Usages anciens et généraux ayant force de loi, et dont l‟ensemble forme le droit coutumier” - Thói quen, cách xử sự… Các cách đối xử cổ truyền và tổng quát có quyền lực như luật lệ trong một xã hội).
Có thể nói Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng. Khái niệm Nghi lễ và Nghi lễ trong Phật giáo * Định nghĩa nghi lễ Nghi: là dáng, mẫu, nghi thức, nghi lễ, khuôn phép … Lễ: là lễ giáo, lễ bái, cúng tế, tôn thờ, cung kính … Nghi lễ như vậy có ý nghĩa rất rộng, bao trùm hành vi, thái độ, tín ngưỡng, văn hóa, ngôn ngữ, phong cách của con người và xã hội. Trong nghĩa hẹp thì nghi lễ là nghi thức hành lễ tụng niệm mang tính tín ngưỡng thờ phụng của một tôn giáo. Nghi lễ thường đi đôi với nhạc.
Lễ và Nhạc, theo triết lý chủ yếu của Nho giáo, có tác dụng chuyển hóa con người và xã hội. Đức Khổng Tử coi lễ rất quan trọng để kiểm soát hành vi, ước muốn bất thiện của con người, còn nhạc để điều hòa cảm hóa lòng người. Nhạc và Lễ của Nho giáo đã ăn sâu vào đường lối cai trị của quốc gia và quan niệm sống của xã hội thời xưa. Nó ảnh hưởng nhất định vào nếp sống của con người và xã hội Á Đông nói chung và Hàn Quốc nói riêng ngày nay.
Nghi lễ Phật giáo cũng có hai phần Lễ và Nhạc, tùy theo truyền thống văn hóa nghệ thuật của mỗi miền mà phần lễ nhạc Phật giáo sẽ ảnh hưởng và biểu hiện theo truyền thống ấy. Nghi lễ Phật giáo mang màu sắc lễ nhạc cổ truyền của dân tộc, là một mảng của nền văn hóa truyền thống cần phải tôn trọng bảo tồn. * Ý nghĩa của nghi lễ Phật giáo Các nhà nghiên cứu tôn giáo cho rằng một tôn giáo phải có đủ ba yếu tố: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Triết học, nghi lễ, và thần thoại. Phật giáo là một tôn giáo nên cũng có đủ ba yếu tố trên.
Tuy nhiên, là một tôn giáo không có Thượng đế nên yếu tố nghi lễ và thần thoại của đạo Phật mang sắc thái và ý nghĩa khác. Mặt khác, hai yếu tố này đối với Phật giáo không được nhấn mạnh. Thời Đức Phật còn tại thế, Bà-la-môn giáo coi việc nghi lễ tế tự là hàng đầu. Nghi lễ là đặc quyền của tu sĩ.
Ý nghĩa của nghi lễ là sự giao tiếp giữa các tu sĩ với Thượng đế, Thần linh, điều mà mọi người bình thường không với tới được. Đức Phật là người đả kích một cách mạnh mẽ vào thành trì nghi lễ ấy, rõ ràng từ thuở ban đầu đạo Phật đã từ bỏ một ý nghĩa nghi lễ như vậy. Sau khi Đức Phật nhập diệt, đời sống của Tăng đoàn có thay đổi, do sự thích nghi với phong tục tập quán, đáp ứng nhu cầu của quần chúng để tồn tại và phát triển, vấn đề nghi lễ được đặt ra. Đạo Phật ở Hàn Quốc dù chịu sự ảnh hưởng đạo Phật Ấn Độ, Trung Hoa và chế độ phong kiến nên đã du nhập học thuật của Khổng, Lão và tín ngưỡng dân gian.
Do đó, khía cạnh nghi lễ của Phật giáo khá phức tạp và phát triển khá mạnh mẽ. Nhất là thời kỳ phong kiến kéo dài, nghi lễ tế tự được ưa chuộng khuyến khích. Vì vậy, triết lý đạo Phật cao siêu và trong sáng mà vẫn không khống chế hay giới hạn nổi sự phát triển của nghi lễ. Nói cho công bằng thì nghi lễ cũng là góp phần một cách thiết thực và hiệu quả trong công cuộc hoằng pháp lợi sinh, điều mà bậc tiền bối, Tổ sư thường nhấn mạnh rằng: Nghi lễ dù quan trọng vẫn chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sinh vào đạo, chứ không phải là con đường thật sự đạt đến giác ngộ.
Nghi lễ biểu hiện lòng tôn kính Tam bảo Để bày tỏ niềm tin, lòng thành kính của mình đối với Đức Phật, chính pháp và chúng tăng, người Phật tử đảnh lễ cúng dường, ca ngợi Tam bảo. Niềm tin Tam bảo sâu sắc sẽ tạo một sự chuyển hóa trong tâm hồn con người. Người tu tập dựa vào đức tin cũng có những tiến bộ tâm linh nhất định.