Chương 1. Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nội dung chính của đề tài như lý do, mục tiêu, phương pháp, ý nghĩa của nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2.
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của sự phân tán địa lý đến tỷ suất sinh lợi các cổ phiếu của các công ty niêm yết. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước đó về sự phân tán địa lý và các nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của sự phân tán địa lý đến TSSL các cổ phiếu. Phương pháp nghiên cứu. Ở chương này, tác giả trình bày phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến sử dụng trong đề tài.
Các nội dung được trình bày ở chương này làm cơ sở cho các phân tích tiếp theo ở Chương 4. Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phân tán địa lý đến TSSL các cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Trong chương này, tác giả sẽ ước lượng TSSL của các công ty địa phương và các công ty phân tán theo các biến phụ thuộc. Sau đó, tác giả sẽ tiến hành kiểm định mô hình và phân tích các kết quả hồi quy.
Ở chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu và các hạn chế của đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÂN TÁN ĐỊA LÝ ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CÁC CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 2. Các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi các cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tỷ suất sinh lợi trung bình chéo của các chứng khoán thể hiện mối quan hệ với nhiều nhân tố thị trường.
Khoảng đầu thế kỷ 19, hệ số β là một thông số quan trọng trong mô hình định giá tài sản (CAPM). β của một cổ phiếu hay một danh mục là một con số mô tả mối quan hệ giữa TSSL của cổ phần hay danh mục đó với toàn bộ thị trường. Đơn giản, nó cho thấy rằngmột tài sản rủi ro hơn sẽ có TSSL kỳ vọng cao hơn tài sản ít rủi ro hơn. Sharp (1964), Linter (1965), Black (1972) phát triển mô hình định giá tài sản và định hướng cách các học giả nghĩ về rủi ro và TSSL trung bình.
Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng mâu thuẫn với mô hình Sharp-Linter- Black và cho thấy hệ số β thôi không đủ giải thích TSSL của chứng khoán. Fama và French (1993)trong một nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí kinh tế tài chính với tựa đề “Common risk factors in the returns on stocks and bonds” như là kết quả mở rộng nghiên cứu của Fama and French (1992) cho cả cổ phiếu và trái phiếu. Tác giả sử dụng cách tiếp cận hồi quy chuỗi thời gian tỷ suất sinh lợi tháng của các cổ phiếu và trái phiếu với 5 nhân tố đó là tỷsuất sinh lợi vượt trội danh mục thị trường (Mkt-Rf), chênh lêch giữa tỷ suất sinh lợi của các danh mục chứng khoán quy mô nhỏ và tỷ suất sinh lợi của các danh mục chứng khoán quy mô lớn (SMB), chênh lêch giữa tỷ suất sinh lợi của các danh mục có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME) thấp và tỷ suất sinh lợi của các danh mục có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME) cao (HML), phần bù kỳ hạn và phần bù rủi ro mất khả năng thanh toán.Tác giả đã phát hiện ra rằng 3 nhân tố đầu tiên ảnh hưởng có ý nghĩa lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu, còn hai nhân tố sau cùng ảnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hưởng lên tỷ suất sinh lợi trái phiếu. Từ đó, Fama và French đã xây dựng một mô hình định giá tài sản 3 nhân tố đối với cổ phiếu bao gồm nhân tố thị trường, nhân tố quy mô và nhân tố giá trị sổ sách trên giá trị thị trường.Mô hình 3 nhân tố này giải thích phần lớn sự khác biệt tỷ suất sinh lợi giữa các cổ phiếu trên thị trường vốn cổ phần Mỹ.
Trong nghiên cứu của mình các ông cũng lưu ý rằng tâm lý thị trường và tính thanh khoản là vấn đề quan trọng mà mô hình này đã bỏ qua. May mắn là nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sau khi kiểm soát các nhân tố thị trường, BE/ME và những biến khác, tính thanh khoản vẫn còn là một nhân tố quan trọng trong tỷ suất sinh lợi. Amihud (2002)đã nghiên cứu ảnh hưởng của tính kém thanh khoản của thị trường và kỳ vọng có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi vượt trội qua thời gian trong bài nghiên cứu có tựa đề là “Illiquidity and stock returns: cross-section and time- series effects” được đăng trên tạp chí kinh tế. Tác giả cho rằng tỷ suất sinh lợi vượt trội kỳ vọng phần nào mang tính đại diện cho phần bù kém thanh khoản, như trong nghiên cứu của Amihud và Mendelson (1986).
Mối quan hệ dương giữa TSSL và tính kém thanh khoản của chứng khoán đã được nghiên cứu qua nhiều nghiên cứu trước đây. Nghiên cứu này, tác giả đo lường tính kém thanh khoản, gọi là biến ILLIQ, là tỷ lệ hàng ngày của trị tuyệt đối TSSL chứng khoán trên khối lượng giao dịch tính bằng đô la.Tác giả lấy dữ liệu là những chứng khoán giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán New Yorktrong giai đoạn 1963-1997, sử dụng cơ sở dữ liệu hàng ngày và hàng tháng của cổ phiếu niêm yết.Tác giả đã phát hiện ra một số kết quả như sau: Thứ nhất, TSSL kỳ vọng của chứng khoán qua thời gian tăng cùng với tính kém thanh khoản kỳ vọng. Những kiểm định mới ở đây là kiểm định tác động qua thời gian của tính kém thanh khoản thị trường lên TSSL vượt trội thị trường. Thứ hai, TSSL vượt trội kỳ vọng phản ảnh mức bù đắp cho tính kém thanh khoản thị trường kỳ vọng và vì thế làm tăng tính năng kém thanh khoản kỳ vọng của thị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 trường.
Hơn nữa, tính thanh khoản thị trường không được kỳ vọng đồng thời làm giảm giá chứng khoán. Điều này là do tính kém thanh khoản được nhận biết là cao hơn thì làm tăng tính kém thanh khoản kỳ vọng mà lần lượt làm tăng TSSL kỳ vọng của chứng khoán và làm giảm giá chứng khoán với giả định rằng không có mối quan hệ giữa dòng tiền của công ty và tính thanh khoản thị trường. Thứ ba, tác động kém thanh khoản là mạnh hơn đối với chứng khoán của công ty nhỏ. Điều này cho thấy rằng những thay đổi qua thời gian trong “tác động quy mô” - TSSL vượt trội ở những chứng khoán của công ty nhỏ - có liên quan đến sự thay đổi trong tính thanh khoản thị trường qua thời gian.Những tác động qua thời gian của tính kém thanh khoản lên TSSL vượt trội khác nhau qua từng chứng khoán do tính thanh khoản hoặc quy mô: tác động của tính kém thanh khoản kỳ vọng hoặc không được kỳ vọng thì mạnh hơn đối với TSSL của danh mục chứng khoán nhỏ.
Độ nhạy cảm lớn hơn đối với tính kém thanh khoản của những chứng khoán nhỏ có nghĩa là những chứng khoán này phụ thuộc vào rủi ro kém thanh khoản lớn hơn, mà nếu được định giá sẽ dẫn đến kết quả phần bù rủi ro kém thanh khoản cao hơn. Những kết quả này cho thấy TSSL vượt trội của chứng khoán không chỉ phản ảnh rủi ro cao hơn mà còn phản ánh thanh khoản của chứng khoán thấp hơn so với chứng khoán kho bạc. Cakici và các cộng sự (2013)đã nghiên cứu về ảnh hưởng của quán tính giá (MOM) trong 18 thị trường chứng khoán mới nổi trong bài nghiên cứu có tựa đề “Size, Value, and Momentum in Emerging Market Stock Returns” được đăng trên tạp chí kinh tế. Tác giả sử dụng dữ liệu từ tháng 01/1990 đến tháng 12/2011 ở 18 quốc gia và chia thành 4 khu vực.
Đầu tiên, đó là khu vực châu Á bao gồm các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Thái Lan. Thứ hai, khu vực châu Mỹ Latin bao gồm các nước Argentina, Brazil, Chile, Colombia và Mexico. Thứ ba, khu vực Đông Âu bao gồm các nước Cộng Hòa Séc, Hungary, Nga, Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Cuối cùng, khu vực thứ tư là tất cả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 các nước mới nổi kể trên.
Để kiểm tra hội nhập thị trường, tác giả sử dụng yếu tố phát triển toàn cầu và dữ liệu danh mục đầu tư LHS, tất cả có sẵn từ trang web của Ken French.Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng MOM có tác động tiêu cực đến TSSL ở 4 khu vực, đặc biệt là các cổ phiếu của quy mô nhỏ; riêng ở thị trường Đông Âu thì không tồn tại MOM. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa mối tương quan tiêu cực này giúp làm giảm sự biến động ở các thị trường mới nổi. Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của sự phân tán địa lý đến tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán ở các quốc gia Harald Hau (2001) trong một nghiên cứu về vai trò của vị trí địa lý đến lợi nhuận kinh doanh đã khám phá ra những bất đối xứng thông tin trên dân số trong bài nghiên cứu với tựa đề là “Location matters: an examination of trading profits” với dữ liệu được thu thập từ hệ thống dữ liệu điện tử Xetra của Sở Giao Dịch Chứng Khoán Frankfurt của Đức;nó chứa tất cả các giao dịch điện tử tất cả ngành nghề của 11cổ phiếu blue-chip của Đức đại diện trong các chỉ số Stoxx 50 trong khoảng thời gian 04 tháng từ 31/08/1998 đến 31/12/1998. Tác giả sử dụng một nguồn dữ liệu trên các tuyến vốn chủ sở hữu 756 thương nhân chuyên nghiệp nằm ở 23 thành phố khác nhau và tám nước châu Âu đó là những thương nhân nằm bên ngoài thành phố và không nói được tiếng Đức.
Với phương pháp hồi quy tuyến tính, uớc lượng hệ số hồi quy theo chuỗi thời gian, tác giả đã rút ra một số kết luận quan trọng như sau: Thứ nhất, thương nhân nằm ở trung tâm tài chính (Frankfurt) không tốt hơn các thương nhân tại các địa điểm khác của Đức. Điều này cho thấy sự tương tác giữa các công ty địa phương là không quan trọng đối với hoạt động kinh doanh. Thứ hai, thương nhân ở địa điểm không nói tiếng Đức cho thấy một hiệu quả thấp có ý nghĩa thống kê đối với lợi nhuận kinh doanh giao dịch trong ngày, trong tuần và trong quý. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.