Đặt vấn đề Cây mè (Sesamum indicum L.) là một trong những cây được thuần hóa và gieo trồng sớm nhất của nhân loại. Hạt mè được xem như một loại thực phẩm tốt cho sức khỏe, giàu năng lượng và có tác dụng ngăn ngừa lão hóa. Trong văn hóa âm thực của người phương Đông, hạt mè được dùng như một loại gia vị dé tăng độ bùi béo và hương vị cho các món ăn. Trong Đông y, mè là một vị thuốc bồ, giúp nhuận trang, lợi sữa; hạt mè rang chín kết hợp cùng các loại thảo mộc khác có thé tạo thành các bài thuốc an than, chữa táo bón, hỗ trợ chữa huyết áp cao, xơ cứng mạch máu.
So với các loại hạt lay dầu quen thuộc khác thì hạt mé có hàm lượng dầu cao hơn và cao nhất có khi lên tới 62,7% (Uzun và Furat, 2008). Dầu mè được coi là một trong những chất béo tốt nhất dé làm thực phẩm, đặc biệt là đối với những người có cholesterol cao, vì lượng 80% axit béo của dầu mè là axit béo chưa no oleic và linoleic, ngoai ra dầu mè còn chứa nhiều vitamin và chất chống oxy hoa (Lucy Sun Hwang, 2005). Dé đạt năng suất và chất lượng cao, cây mè phải được chăm sóc và bón phân hợp ly, được cung cấp day đủ các nguyên tố thiết yếu giúp cây hoàn thành tốt chu kì sống của mình. Trong quá trình nghiên cứu, có khoảng 19 nguyên tố được cho là thiết yếu đối với thực vật: C, H, O, N, S, P, K, Mg, Ca, Fe, Cu, Mn, Zn, B, Mo, Cl, Na, Si, Ni (Hoang Minh Tấn, 2006).
Đất xám nghèo dinh dưỡng, hàm lượng NPK thấp, pH thấp, nghèo mùn, nghèo vi sinh và hoạt động của vi sinh trong đất yếu. Nếu không có biện pháp canh tác phù hợp với cây trồng thì năng suất thấp, dé bi sâu bệnh, sức dé kháng yếu gây ảnh hưởng tới kinh tế. Mặc dù thị trường phân bón đa dạng, nhiều mẫu mã nhưng người dân vẫn chưa tìm được loại phân bón phù hợp với quy trình canh tác mè trên vùng đất xám dé phục vụ xuất khâu. Xuất phát từ vấn đề trên đề tài “Anh hưởng của một số phân bón lá đến sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất hạt của cây mè (Sesamum indicum L.) trên vùng đất xám Thủ Đức, Thành phó Hồ Chí Minh” đã được thực hiện.
Mục tiêu đề tài Đánh giá ảnh hưởng của 5 loại phân bón lá: GrowMore, N3M, Canxi — Bo, VIUSID Agro và NutriSmart đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mè vàng LA-07 nhằm tìm được loại phân bón lá thích hợp dé sử dụng bón thúc trong giai đoạn ra hoa và đậu trái. Đánh giá phâm chat hạt của giống mè vàng LA-07 có phù hợp với tiêu chuẩn xuất khâu hay không thông qua 2 chỉ tiêu: kích thước hạt và hàm lượng dầu. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khảo sát và so sánh sự ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và các yếu tô cầu thành năng suất của cây mè. Nội dung 2: Khảo sát hàm lượng dầu hạt mè.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu chung về cây mè 2. Nguồn gốc và phân loại Từ lâu, cây mè đã là cây lay dầu có giá trị với khoảng một nửa trọng lượng hạt là dầu và trong dầu có chứa nhiều axit béo tốt cho sức khỏe. Cây mé là loại cây lay dầu lâu đời nhất được con người sử dụng (Joshi 1961; Weiss 1971).
Có nhiều tài liệu khác nhau về nguồn gốc xuất xứ, thời gian xuất hiện của cây mè và đây vẫn còn là chủ đề đang được tranh luận. Theo một số tác giả, cây mè đã được trồng ở Ấn Độ hơn 5. Mặt khác, nhiều tài liệu cho rằng nó là cây lấy dầu được người dân Babylon và Assvria trồng cách đây khoảng 4. Tuy nhiên, nhiều người chấp nhận giả thuyết rằng cây mè có nguồn gốc từ Ethiopia, châu Phi.
Cây mè được đưa vào Babylon từ châu Phi. Sau đó, nó phát triển về phía Tây vào châu Âu và về phía Đông vào châu Á. Sau khi du nhập vào châu Á, mè nhanh chóng phát triển ở Ấn Độ và một số nước Nam A. An Độ và Trung Quốc được xem là trung tâm thứ 2 về giống mè.
Cây mè (Sesamum indicum L.) thuộc họ Pedaliaceae, là một loại cây hàng năm mọc thang được trồng từ thời cô đại dé lay hạt. Nó cũng được sử dụng làm thực phẩm và hương liệu, cũng như dé chiết xuất một loại dau quý. Phân loại thực vật học: Giới (regnum) : Plantae Bộ (ordo) : Lamiales Ho (familia) : Pedaliaceae Chi (genus) : Sesamum Loai (species) :S. Hình ảnh tổng quan cây mè (Nguôn: Franz Eugen Kohler và ctv, 1897) Mặc dù mè có nhiều màu sắc nhưng mè đen (Hình 2.2c) và mè trắng (Hình 2.2a) phổ biến hơn và được trồng rộng rãi.
Mè đen có khả năng sinh trưởng mạnh, chống dé, chiu han, trong khi mé trang co ham luong dau cao, chat luong tốt, có diện tích trồng và phân bố lớn nhất. Đối với các giống khác, chang hạn như mè vàng, cây của nó thường ik 2. Đặc điểm thực vật học cây mè Ré: Cây mè là cây hai lá mầm, hệ rễ cọc và có rễ chính ăn sâu. Mé là cây thân thảo hàng niên nên hệ rễ bên của mè rat phát triển và thường phân bồ ở lớp dat mặt 1 - 25 cm.
Cây mè không chịu được điều kiện ngập ung, dù trong khoảng thời gian ngắn. Đa số giống mè ở Việt Nam là giống mè có kiểu sinh trưởng hữu hạn, với thời gian sinh trưởng ngắn từ 75 - 85 ngày. Thân: Thân mè thuộc thân thảo, thân thường có hình 4 cạnh với những tiết diện vuông và những rãnh doc. Màu sắc thân thay đổi từ màu xanh nhạt đến mau tím tùy theo giống, nhưng phổ biến nhất là màu xanh đậm, khi trưởng thành sẽ chuyên dần sang vàng.
Thân cao từ 60 đến 180 cm, cũng có khi cao đến 250 cm (Editors of Encyclopaedia Britannica, 2023). Thân mè có thé nhẫn, có ít lông hoặc rất nhiều lông. Nhiều nghiên cứu cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa mức độ bao phủ lông trên thân và khả năng chống chịu hạn của mè. Lá: Lá mè là lá đơn, mọc cách trên thân, cành.
Hình dạng lá thay đôi tùy giống và ở vi trí khác nhau trên thân cũng có hình dạng khác nhau. Thông thường, lá ở vị trí thấp và gần gốc cành thường rộng bản và chia thùy, lá trên nhỏ và thuôn dai. Phién lá thường có lông và có chất nhay. Cuống lá dai 1 - 5 cm.
Hoa: Hoa mè thuộc hình chuông. Cuống hoa ngắn. Tràng hoa gồm 5 cánh hợp thành hình chuông. Đài hoa xanh, 5 cánh nông.
Ong hoa dai 3 — 4 em. Hoa mọc ở nách lá thành chùm. Mỗi chùm có 4 — 8 hoa. Bau nhụy nằm trên đáy hoa, có 2 ngăn với nhiều vách giả.
Trái: Trái mè là loại trái nang, có chứa nhiều hạt, có loại bung và không bung khi chín sinh lý. Loại được trồng phô biến hơn là loại trái bung, vỏ nang sẽ bị tách từ trên Thời gian bắt đầu ra hoa dao động từ 30 đến 48 ngày phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng của giống. Hoa mè có thé có màu trắng, hồng đến màu tim hoa cà (Arriel, 2007). Mỗi chùm hoa, có thé mang được 4 - 5 trái.xuống khoảng hai phan ba chiều dai và rụng hat, do đó, nếu không thu hoạch kịp thời sẽ gây ra thất thoát, làm giảm năng suất (Zerihun và ctv, 2012).
Chat lượng trái cũng khác nhau tùy thuộc vào vị trí đóng trái. Thường trái ở Vi trí thấp có hạt lớn hơn ở những vi trí cao. VỊ trí dong trái đầu tiên khoảng 25,0 cm đến 161,3 cm và có liên quan chặt chẽ với chiều cao trung bình của cây, thay đổi từ 149,0 đến 310,7 cm. Thường có 6 đến 205 trái nang trên mỗi cây (Arriel, 2007).
Hạt: Số hang hạt là đặc điểm giống cho nên được coi là một chi tiêu dé phân biệt, đánh giá giống. Hạt mè nhỏ có hình bầu dục, hơi det, có kích thước 3,0 mm x 1,5 mm và có nhiều màu khác nhau từ trắng, vàng, xám, đỏ, nâu hoặc đen. Hạt mè tương đối mảnh và chứa rất nhiều dau. Hàm lượng dau của hạt mè thay đổi theo giống và mùa vụ trồng (Tạ Quốc Tuan và Tran Văn Lot, 2006).
Hạt mè rất nhỏ, trọng lượng 1000 hạt thường biến động khoảng 4 - 4,5 g. Hơn nữa, hạt của nó không chi chứa tat cả các axit amin thiết yêu và axit béo mà còn là nguồn vitamin tốt (axit pantothenic và vitamin E) và khoáng chất như Canxi (1450 mg/100 g) va Phốt pho (570 mg/100 g). Điều kiện ngoại cảnh Nhiệt độ: Nghiên cứu của Gurjinder va ctv năm 2020 cho thấy nhiệt độ có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cây mè. Cây mè có nguồn gốc nhiệt đới nên yêu cầu nhiệt độ tương đối cao.
Nhiệt độ thích hợp trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng là khoảng 25 - 27°C, trong khi thời kỳ sinh trưởng phát triển (nở hoa, kết trái và chín) cần nhiệt độ cao hơn, khoảng 28 - 32°C. Nếu nhiệt độ giảm dưới 20°C thì quá trình sinh trưởng chậm lại và dưới 10°C thì kìm hãm quá trình sinh trưởng. Ngược lại, trong thời gian ra hoa, nhiệt độ cao trên 40°C sẽ cản trở sự thụ phan va thu tinh, tang tỉ lệ rụng hoa và giảm số hoa nên anh hưởng năng suất. Anh sáng: Mè là cây ưa ánh sáng, có phản ứng quang kỳ ngày ngắn.
Trong điều kiện thời gian chiếu sáng dưới 10 giờ trong ngày sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng đinh dưỡng. Sau khi ra hoa kết trái, mè cần nhiều ánh sáng. Giai đoạn hình thành trái đến chín cần số giờ nắng khoảng 200 - 300 giờ/tháng. Thời vụ gieo trồng khác nhau ảnh hưởng đến năng suất mè.
Do đó, đối với từng giỗng ở mỗi vùng nhất định cần phải xác định thời điểm gieo trồng thích hợp dé có được năng suất tối da. Nước: Cây mè có khả năng chịu hạn tốt. Tuy nhiên, để mè cho năng suất cao thì cần phải cung cấp một lượng nước nhất định trong suốt quá trình sinh trưởng. Mè cần lượng mưa 500 - 600 mm và phân bố đều toàn vụ.
Am độ đất thích hợp cho mè sinh trưởng và phát triển tốt là 70 - 80%. Trong điều kiện tưới, cần tổng khoảng 900 - 1000 mm mỗi vụ. Đặc biệt, ở thời kỳ cây con, mè rất mẫn cảm với sự thiếu hụt nước. Tuy nhiên, ở thời kỳ ra hoa néu mưa sẽ làm giảm mạnh năng suất.
Thời điểm thu hoạch gặp mưa cũng làm giảm năng suất và chất lượng hạt.