Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố ảnh hưởng đến quản tri lợi nhuận Chương 2: Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Kết luận và kiến nghị CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN QUAN TRI LỢI NHUAN 1.1 Cơ sở lý luận về hành vi quản trị lợi nhuận 1. Khái niệm Hành vi Quản trị lợi nhuận Hành vi Quản trị lợi nhuận là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp và đã được nghiên cứu sâu rộng trong các nghiên cứu trước đây.
Healy và Wahlen (1999) định nghĩa quản tri lợi nhuận là sự lựa chọn chính sách kế toán hoặc các quyết định vận hành thực tế ảnh hưởng đến số lượng lợi nhuận được báo cáo, với mục đích thay đổi hình ảnh lợi nhuận của công ty. Watts va Zimmerman (1986) mô tả quản tri lợi nhuận là quá trình điều chỉnh số liệu kế toán để hiệu suất kinh doanh của công ty gần hơn với các mục tiêu được xác định trước. Đồng thời, Burgstahler và Dichev (1997) đề xuất khái niệm các khoản phải trả tùy ý, đó là "các điều chỉnh kế toán có thé được sử dụng dé quan trị lợi nhuận". Jones (1991) đưa ra khái niệm chất lượng lợi nhuận, chỉ việc "khả năng của lợi nhuận (thu nhập) được bao cáo dé dự đoán lợi nhuận tương lai của một công ty".
Cuối cùng, Dechow và Sloan (1991) giới thiệu khái niệm làm phẳng lợi nhuận, đó là "thực hành sử dụng các phương pháp kế toán dé cân đối đều các biến động trong lợi nhuận". Tóm lại, quản trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh số liệu kế toán cụ thé là chi số lợi nhuận trong quá trình cung cấp thông tin ra bên ngoài có chủ đích thông qua Báo cáo tài chính dé thu hút các nhà đầu tư có cái nhìn tích cực về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của công ty. Phân loại hành vi và cơ sở của hành vi Quản trị lợi nhuận > Phan loại hành vi Quản trị lợi nhuận Quản trị lợi nhuận (QTLN) dựa trên cơ sở dôn tích (earnings management based on accruals) là hành vi quản trị lợi nhuận dựa trên việc sử dụng các phương pháp kế toán để tăng hoặc giảm lợi nhuận trong tương lai, nhằm đáp ứng các mục tiêu quản tri của công ty. Các phương pháp này bao gồm việc điều chỉnh các khoản dự trữ, việc chuyền các chi phí từ quý nay sang quý khác và việc thay đổi các nguyên tắc kế toán.
8 Một số nghiên cứu đã chứng minh sự tỒn tại của quản tri lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích. Ví dụ, Dechow và các đồng nghiệp (1995) đã phát hiện ra rằng các công ty có lợi nhuận thấp hơn dự kiến trong quý trước thường có xu hướng tăng lợi nhuận bằng cách dồn tích các khoản chi phí vào quý sau. Trong khi đó, các công ty có lợi nhuận cao hơn dự kiến trong quý trước thường có xu hướng giảm lợi nhuận bằng cách chuyên các khoản chi phí vào quý sau. Nghiên cứu của Jones (1991) cũng cho thấy rằng các công ty có sự biến động lợi nhuận lớn hơn so với dòng tiền hoạt động thường có xu hướng sử dụng quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở đồn tích dé thay đồi lợi nhuận.
Nghiên cứu của Roychowdhury (2006) cũng chi ra rằng các công ty có khả năng quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dôn tích cao hơn có xu hướng báo cáo kết quả tài chính với tính linh hoạt cao hơn, như việc lựa chọn phương pháp tinh giá hàng tồn kho hoặc việc thay đối kỳ hạn thanh toán các khoản nợ. Hành vi QTLN dựa trên các hoạt động kinh doanh thực tế (Real Earnings Management - REM) là việc quản lý các hoạt động kinh doanh nhằm tăng lợi nhuận thực tế của công ty trong một khoảng thời gian nhất định. Các hành vi REM thường bao gồm việc điều chỉnh đối với chỉ phí, doanh thu, lượng hàng tồn kho, lãi suất và các khoản phải thu, dựa trên thông tin có sẵn và thông tin dự báo về các sự kiện tương lai. Các nghiên cứu đã chứng minh sự tồn tại của hành vi QTLN dựa trên các hoạt động kinh doanh thực tế như REM.
Ví dụ, nghiên cứu của Roychowdhury (2006) đã cho thấy rằng các công ty thường sử dụng các chiến lược REM để tăng lợi nhuận và đáp ứng các mục tiêu lợi nhuận của công ty. Nghiên cứu của Dechow et al. (2010) cũng đã chi ra rang việc sử dụng các chiến lược REM liên quan chặt chế đến các mục tiêu lợi nhuận của công ty và co thé dẫn đến việc tăng cường sự không chắc chan trong báo cáo tài chính của công ty. Nghiên cứu của Wang và Wang (2012) cũng đã cho thấy răng việc sử dụng các chiến lược REM có thé dẫn đến việc giảm sự minh bạch trong báo cáo tài chính của công ty.
> Cơ sở của hành vi QTLN- cơ sở dần tích Theo Chuẩn mực kế toán chung (VAS 01), mọi hoạt động kinh tế và tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chỉ phí phải được ghi số kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc chỉ tiền. Do đó, theo quy định của Chuẩn mực này, tất cả Báo cáo tài chính (trừ báo cáo lưu chuyên tiền tệ) đều phải được lập trên cơ sở dồn tích. Các khoản chi phí được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Việc lập Báo cáo tài chính trên cơ sở dồn tích giúp phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Quản trị lợi nhuận thông qua phương pháp dồn tích giúp đảm bảo sự cân băng giữa doanh thu và chi phí phát sinh trong một kỳ kế toán nhất định, hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá hiệu quả hoạt động một cách toan diện hơn bằng cách không chỉ tập trung vào dòng thu và chi tiền. Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dựa trên phương pháp dôn tích, doanh nghiệp có thể biết được toàn bộ các khoản thu nhập và chi phí phát sinh trong kỳ dé tạo ra khoản thu nhập đó. Ngoài ra, cơ sở d6n tích cũng tạo điều kiện dé van dụng linh hoạt các chính sách và ước tính kế toán giúp cung cấp tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu lợi nhuận trong một kỳ kế toán. Điều này giúp tạo một hình ảnh tốt hơn về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên việc này có thé bị lam dung để giảm tinh minh bach và độ tin cậy của thông tin tài chính, gây ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư và bên liên quan khác. Động cơ dẫn đến hành vi Quản trị lợi nhuận Động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận là các động cơ thúc đây doanh nghiệp tiền hành các hành động điều chỉnh thông tin tài chính dé ảnh hưởng đến quan điểm của các nhà đầu tư và các bên liên quan khác về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của công ty. Các động cơ này bao gồm: s* Động cơ về thị trường von: 10 Đây được coi là một trong những yếu t6 quan trọng dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận. Các công ty cần phải đáp ứng sự kỳ vọng của thị trường vốn dé thu hút các nhà đầu tư và tăng giá trị cổ phiếu của công ty.
Nghiên cứu của Li, Li, & Ullah (2015) cho thấy rằng việc quản trị lợi nhuận có thể được sử dụng để cải thiện vị thế tài chính của công ty va tăng giá trị thị trường. Các công ty cũng có thé sử dung quản trị lợi nhuận dé ồn định giá cô phiếu va giữ được sự quan tâm của nhà đầu tư. Burgstahler va Eames (1998) cũng đã cho thấy rằng các công ty quản trị lợi nhuận dé đáp ứng được sự mong đợi của các nhà phân tích dự báo. Cụ thể trong nghiên cứu của Kim và Kross (2010) cho thấy răng quan trị lợi nhuận có thé ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty và gây ra sự khác biệt về giá cổ phiếu giữa các công ty quản tri lợi nhuận và các công ty không quan tri lợi nhuận.
Bằng chứng thực nghiệm cho thay rang các công ty có mức lợi nhuận cao thường có giá cô phiếu cao, ngược lại các công ty có mức lợi nhuận thấp dẫn đến giá cô phiếu cũng sụt giảm. Lý giải cho điều này bởi vì tâm lý chung của các nhà đầu tư luôn thích một Doanh nghiệp có chu kỳ tăng trưởng tốt, không có quá nhiều biến động. Các công ty thường báo cáo tăng thu nhập bang các biến dồn tích trước khi phát hành cổ phiếu (Teoh, Welch and Wong (1998b)) và phát hành lần đầu ra công chúng (Ronen và Yaari (2008)) để tìm kiếm các nhà đầu tư. Ngược lại, nếu một công ty không đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng của nhà quản lý, thị trường sẽ thường "trừng phạt mạnh" bằng cách đánh giá thấp giá cô phiếu của công ty, gây ra sự giảm giá và tăng nguy cơ giảm giá trong tương lai.
Việc không đáp ứng được mức lợi nhuận kỳ vọng cũng có thé dẫn đến sự giảm giá trực tiếp của giá trị thị trường của công ty, ảnh hưởng tiêu cực đến sự đánh giá của nhà dau tư, các cô đông và các bên liên quan khác đôi với công ty. s* Động cơ thuê: Các công ty có thé sử dụng các chiến lược quản trị lợi nhuận nhằm giảm thiêu các khoản thuế phải trả, tăng lợi nhuận sau thuế và tăng giá trị cô phiếu cho cô đông. Bang cách đời chi phí hoạt động sang các quý sau, sử dụng cac khoản khấu trừ thuế cho các chi phí không phải chi phí thực tế, hay tận dụng các khoản thuế suất thấp hoặc miễn giảm 11 thuế trong một khu vực đặc biệt và có thé sử dụng các công cụ tải chính khác dé tối da hóa lợi nhuận sau thuế. Có rất nhiều các nghiên cứu trước đây đã chứng minh “thuế” là một động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Ví dụ, nghiên cứu của Ashbaugh et al. (2007) tại Hoa Kỳ cũng cho thấy sự liên quan giữa chiến lược quản trị lợi nhuận và thuế. Nghiên cứu này cho thấy rằng các công ty sử dụng các chiến lược này dé giảm thiểu các khoản thuế phải trả và tăng lợi nhuận sau thuế.