Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 9340101) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Nhật Linh, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Võ Xuân Vinh tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2026), tập trung vào đề tài: "Ảnh hưởng của nhận thức an toàn điểm đến, niềm tin điểm đến tới ý định giới thiệu điểm đến du lịch MICE: nghiên cứu trường hợp điểm đến thành phố Cần Thơ".
Về bối cảnh thực tiễn và tính cấp thiết, loại hình du lịch MICE (Meetings, Incentives, Conferences, Exhibitions/Events) đang trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của ngành du lịch toàn cầu với quy mô dự báo đạt 1.828,68 tỷ USD vào năm 2033 (Grand View Research, 2026). Thành phố Cần Thơ, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh trên cơ sở hợp nhất địa giới với tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang, có diện tích tự nhiên đạt 6.360,83 km² và quy mô dân số 4.824 người (theo số liệu ghi nhận trong văn bản luận án), giữ vị trí trung tâm kết nối vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Mặc dù lượng khách và doanh thu du lịch có sự gia tăng (năm 2024 đón hơn 6,3 triệu lượt khách, doanh thu 6.226 tỷ đồng; năm 2025 ước đạt 11.000 lượt khách lưu trú và tổng thu 9.991 tỷ đồng), hoạt động du lịch MICE tại đây vẫn phát triển tự phát, manh mún, thiếu các trung tâm hội nghị quy mô lớn trên 1.000 người, thời gian lưu trú chưa vượt quá 2 ngày và tỷ lệ du khách quay lại còn thấp. Bên cạnh đó, các thách thức về biến đổi khí hậu cực đoan (ngập lụt, sạt lở, hạn hán, dông lốc) đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bảo đảm an toàn.
Về khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ ra năm khoảng trống học thuật:
- Các nghiên cứu về nhận thức an toàn điểm đến (TPSD) chủ yếu tập trung vào du lịch nghỉ dưỡng hoặc du lịch đại chúng, rất ít nghiên cứu trong bối cảnh du lịch MICE – nơi đòi hỏi tính ổn định và năng lực tổ chức rất cao.
- Cơ sở đo lường TPSD trong bối cảnh MICE chưa được kiểm chứng đầy đủ theo cấu trúc đa chiều bậc cao.
- Bằng chứng thực nghiệm về hệ quả hành vi của TPSD, cụ thể là ý định giới thiệu điểm đến thông qua vai trò trung gian của niềm tin điểm đến, còn hạn chế.
- Vai trò điều tiết của danh tiếng điểm đến trong các mối quan hệ giữa nhận thức an toàn, niềm tin và ý định hành vi chưa được kiểm định rõ nét.
- Thiếu các kiểm định so sánh đa nhóm giữa thị trường khách MICE nội địa và quốc tế để làm rõ sự khác biệt trong tiếp nhận rủi ro và đánh giá an toàn.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 6 mục tiêu:
- Đánh giá sự phù hợp về nội dung và kiểm định cấu trúc đo lường bậc cao phản ánh – hình thành của TPSD trong bối cảnh MICE.
- Phân tích mối quan hệ và đánh giá mức độ ảnh hưởng của TPSD đến ý định giới thiệu điểm đến MICE.
- Xác định vai trò trung gian của niềm tin điểm đến trong mối quan hệ giữa TPSD đến ý định giới thiệu điểm đến MICE.
- Xác định vai trò điều tiết của danh tiếng điểm đến trong ba mối quan hệ: giữa TPSD và ý định giới thiệu điểm đến MICE, giữa TPSD và niềm tin điểm đến, và giữa niềm tin điểm đến và ý định giới thiệu điểm đến MICE.
- Đánh giá sự khác biệt giữa du khách MICE nội địa và du khách MICE quốc tế trong các mối quan hệ cấu trúc và vai trò điều tiết của danh tiếng điểm đến.
- Đề xuất hệ thống hàm ý quản trị và kiến nghị cho các bên liên quan nhằm phát triển du lịch MICE.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu tương ứng:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Nội dung và cấu trúc đo lường của TPSD thể hiện mức độ phù hợp như thế nào trong bối cảnh MICE?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: TPSD tác động như thế nào đến ý định giới thiệu điểm đến MICE?
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Niềm tin điểm đến giữ vai trò trung gian như thế nào trong mối quan hệ giữa TPSD và ý định giới thiệu điểm đến MICE?
- Câu hỏi nghiên cứu 4: Danh tiếng điểm đến điều tiết mối quan hệ giữa (1) TPSD và ý định giới thiệu điểm đến MICE, (2) TPSD và niềm tin điểm đến, và (3) niềm tin điểm đến và ý định giới thiệu điểm đến MICE như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 5: Tác động của TPSD đến niềm tin điểm đến và ý định giới thiệu điểm đến, cũng như vai trò của danh tiếng điểm đến có khác biệt giữa du khách MICE nội địa và du khách MICE quốc tế hay không?
- Câu hỏi nghiên cứu 6: Hàm ý quản trị nào cần được đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa nhận thức an toàn điểm đến, niềm tin điểm đến, danh tiếng điểm đến và ý định giới thiệu điểm đến du lịch MICE.
- Đối tượng khảo sát: Du khách du lịch MICE đang hiện diện và trải nghiệm thực tế tại thành phố Cần Thơ tại thời điểm khảo sát.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Cần Thơ.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực nghiệm được thu thập và phân tích phục vụ luận án hoàn thành năm 2026.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện quy trình tổng quan tài liệu có hệ thống theo chuẩn PRISMA 2020 trên cơ sở dữ liệu Scopus với từ khóa tìm kiếm: ((tourism AND safety) OR (travel AND safety AND (touris* OR tourist* OR destination* OR visitor* OR hospitality OR hotel* OR resort* OR leisure OR traveler* OR traveller*))) vào ngày 23/07/2026. Từ 1.453 kết quả ban đầu, sau khi loại bỏ 64 bản ghi trùng lặp và sàng lọc qua tiêu đề, tóm tắt cùng toàn văn, tác giả đã lựa chọn 52 bài báo khoa học đủ điều kiện để đưa vào phân tích chuyên sâu.
Phân tích đồng trích dẫn trong văn bản luận án xác định 5 nhóm nghiên cứu tiêu biểu:
- Nhóm 1 (Phương pháp và mô hình hành vi du khách): Fornell và Larcker (1981), Hair và cộng sự (2011), Henseler và cộng sự (2015), Cohen (2013), Ajzen (1991), Churchill Jr (1979), Jc và Ih (1994).
- Nhóm 2 (Đặc tính điểm đến, hình ảnh và động lực du lịch): Beerli và Martin (2004), Baloglu và McCleary (1999), Crompton (1979), Fakeye và Crompton (1991), Plog (1974).
- Nhóm 3 (Nhận thức rủi ro, an toàn và an ninh): Lepp và Gibson (2003, 2008), Karl (2018), Barker và cộng sự (2003), George (2003, 2010), Cavlek (2006), Reichel và cộng sự (2007), Lepp và cộng sự (2011), Reisinger và Mavondo (2005, 2006), Kozak và cộng sự (2007), Law (2006), Fuchs và Reichel (2006), Quintal và cộng sự (2010), Pizam và Mansfeld (1996), Araña và León (2008), Saha và Yap (2014), Rittichainuwat và Chakraborty (2009), Sönmez và cộng sự (1999).
- Nhóm 4 (Quản lý khủng hoảng và phục hồi du lịch): Fuchs và Reichel (2011), Rittichainuwat và Chakraborty (2009), Sönmez và cộng sự (1999), Adam (2015), Faulkner (2013), Ritchie (2004).
- Nhóm 5 (Du lịch mạo hiểm và hành vi chuyên biệt): Seabra và cộng sự (2013), Cater (2006), Weber (2001), Pearce (2012).
Đi sâu vào 52 công trình nghiên cứu về nhận thức an toàn điểm đến (TPSD), luận án phân loại thành 3 hướng chính:
- Các yếu tố tác động đến TPSD (14 nghiên cứu): Bao gồm yếu tố cá nhân (tâm lý, sự đoàn kết cảm xúc theo Woosnam và cộng sự (2015), khoảng cách tâm lý theo Wu và cộng sự (2024), nhân khẩu học và văn hóa theo Zou (2023), Poku và Boakye (2019)); yếu tố thuộc về chuyến đi (thời gian lưu trú, mục đích chuyến đi theo Zou (2023), bối cảnh biên giới theo Lever và cộng sự (2024)); và yếu tố môi trường (chiếu sáng và mật độ người đi bộ theo Wang và cộng sự (2026), sự đông đúc trên tàu biển theo Liu-Lastres và Pratt (2025), năng lực hướng dẫn viên theo Luo và cộng sự (2026), công nghệ du lịch thông minh theo Masroor và Shiva (2024), môi trường truyền thông và mạng xã hội theo Marine-Roig và Huertas (2020), Liu và cộng sự (2021)).
- Phản ứng của du khách trước TPSD (34 nghiên cứu): Gồm phản ứng về ý định (14 nghiên cứu: ý định trải nghiệm qua video TikTok theo Mohammed và cộng sự (2023), ý định ghé thăm theo Frleta và Jurdana (2024), ý định chi trả thêm theo Rosales và cộng sự (2025), ý định du lịch bù đắp theo Salman và cộng sự (2025) và Bhatt (2025), ý định giới thiệu và quay lại theo George (2003, 2010), Kong và cộng sự (2024), Raza và Salman (2025)); phản ứng về hành vi (3 nghiên cứu: hành vi giới thiệu và thăm lại theo Boakye (2012), hành vi du lịch mạo hiểm theo Stephensen và Martiny-Huenger (2021), hành vi né tránh theo Nazneen và cộng sự (2021)); và phản ứng tâm lý (17 nghiên cứu: sự hài lòng theo Tasci và Boylu (2010), niềm tin theo Preko (2021), lòng trung thành theo Le và cộng sự (2020), Martins và cộng sự (2026), Soliman và cộng sự (2024), sự tha thứ theo Wang và cộng sự (2025), hình ảnh điểm đến theo Gavurova và cộng sự (2023), Ding và Wu (2022)).
- Phát triển lý thuyết về an toàn du lịch (4 nghiên cứu): Gồm tổng quan tài liệu (Wang và cộng sự (2019) đối chiếu nghiên cứu phương Tây và Trung Quốc; Toker và Emir (2023) trắc lượng thư mục 597 bài báo qua VOSviewer; Yang và cộng sự (2019) đề xuất khái niệm vi khí hậu du lịch) và xây dựng thang đo (Xie và cộng sự (2021) phát triển thang đo TPSD gồm 5 khía cạnh và 20 biến quan sát).
Vị trí của luận án: Kế thừa mô hình thang đo của Xie và cộng sự (2021) nhưng đặt vào phân khúc du lịch MICE tại một điểm đến đang phát triển là Cần Thơ, luận án giải quyết khoảng trống về cơ chế dẫn truyền tâm lý từ nhận thức sang hành vi thông qua việc kiểm tra vai trò trung gian của niềm tin và vai trò điều tiết của danh tiếng điểm đến.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp giữa hai nền tảng lý thuyết:
- Mô hình CAB (Cognition – Affect – Behavior) và lý thuyết thứ bậc của tác động: Giải thích tiến trình tâm lý của du khách qua ba giai đoạn: Nhận thức (Cognition - đo lường bằng TPSD) dẫn tới Trạng thái cảm xúc/bên trong (Affect - đo lường bằng Niềm tin điểm đến), từ đó kích hoạt Phản ứng hành vi (Behavior - đo lường bằng Ý định giới thiệu điểm đến du lịch MICE).
- Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory): Danh tiếng điểm đến (Destination Reputation) đóng vai trò là một tín hiệu thông tin từ bối cảnh, giúp giảm thiểu rủi ro thông tin bất đối xứng, điều tiết cường độ tác động giữa nhận thức an toàn, niềm tin và ý định giới thiệu điểm đến.
Các khái niệm nghiên cứu cốt lõi:
- Nhận thức an toàn điểm đến (TPSD): Được tiếp cận là một cấu trúc bậc cao dạng phản ánh – hình thành (reflective-formative higher-order construct) gồm 5 thành phần bậc một mang tính phản ánh:
- Sự an toàn của yếu tố con người (PSH).
- Sự an toàn về cơ sở vật chất và thiết bị (PSFE).
- Sự an toàn về yếu tố môi trường tự nhiên (PSNE).
- Sự an toàn về yếu tố môi trường xã hội (PSSE).
- Sự an toàn của yếu tố quản lý (PSM).
- Niềm tin điểm đến (DT): Kỳ vọng và sự tin tưởng của du khách vào tính trung thực, thiện chí và năng lực cung ứng dịch vụ an toàn của điểm đến.
- Danh tiếng điểm đến (RT): Đánh giá tổng thể của công chúng và du khách về độ tin cậy và vị thế của điểm đến theo thời gian.
- Ý định giới thiệu điểm đến (DRI): Mức độ sẵn sàng chia sẻ thông tin tích cực, khuyên nhủ hoặc đề xuất điểm đến cho đồng nghiệp, đối tác và tổ chức sự kiện MICE.
Quy trình và phương pháp nghiên cứu triển khai qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (Tổng quan tài liệu): Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, kế thừa khung thang đo của Xie và cộng sự (2021), thiết lập thang đo nháp thứ nhất.
- Giai đoạn 2 (Nghiên cứu sơ bộ):
- Phỏng vấn sâu chuyên gia (các nhà quản lý du lịch, chuyên gia MICE) nhằm đánh giá giá trị nội dung và độ phù hợp của thang đo tại Cần Thơ.
- Khảo sát thử nghiệm với kích thước mẫu sơ bộ gồm $n = 106$ khách du lịch MICE để đánh giá sơ bộ độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các thang đo phản xạ.
- Giai đoạn 3 (Nghiên cứu chính thức):
- Phương pháp chọn mẫu: Lấy mẫu phi xác suất kết hợp giữa chọn mẫu thuận tiện và sàng lọc có chủ đích (purposive screening) đối với du khách MICE đang lưu trú và dự hội nghị tại Cần Thơ.
- Thu thập dữ liệu: Khảo sát thực địa bằng bảng hỏi cấu trúc tự điền, thu được $n = 316$ mẫu hợp lệ.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) theo hướng dẫn của Hair và cộng sự (2020). Kiểm soát sai lệch phương pháp chung (Common Method Bias) theo quy trình của Podsakoff và cộng sự (2003). Đánh giá mô hình đo lường bậc một và bậc hai (hệ số tải ngoài, Cronbach’s Alpha, rho_A, độ tin cậy tổng hợp CR, phương sai trích trung bình AVE, tiêu chí Fornell-Larcker, chỉ số HTMT, hệ số tải chéo). Đánh giá mô hình cấu trúc qua hệ số VIF, hệ số xác định $R^2$, độ lớn tác động $f^2$, năng lực dự báo bằng PLSpredict và CVPAT (Cross-Validated Predictive Ability Test) so sánh với trung bình chỉ báo IA. Kiểm định các tác động trực tiếp, gián tiếp (Bootstrapping) và kiểm định điều tiết. Cuối cùng, thực hiện quy trình kiểm tra bất biến đo lường (MICOM: bất biến thành phần, bất biến trung bình, bất biến phương sai) và phân tích đa nhóm (PLS-MGA) so sánh giữa du khách MICE nội địa và quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh du lịch MICE quốc tế và Việt Nam. Tác giả dẫn chứng báo cáo Chỉ số cạnh tranh điểm đến hội nghị quốc tế (The Competitive Index 2022 – 2023 của GainingEdge) nhằm chứng minh vị trí then chốt của tiêu chí an toàn trong quyết định chọn địa điểm tổ chức:
| STT |
Tiêu chí lựa chọn điểm đến tổ chức hội nghị |
Trọng số |
| 1 |
Cơ sở hạ tầng |
0,20 |
| 2 |
Ưu đãi của khách sạn |
0,15 |
| 3 |
Khả năng di chuyển bằng đường hàng không |
0,10 |
| 4 |
Sự hấp dẫn của điểm đến |
0,10 |
| 5 |
Mạng lưới hiệp hội |
0,10 |
| 6 |
Chi phí |
0,10 |
| 7 |
Khả năng di chuyển giữa các địa điểm |
0,05 |
| 8 |
Quy mô thị trường mục tiêu |
0,05 |
| 9 |
Quy mô nền kinh tế |
0,05 |
| 10 |
Môi trường kinh doanh |
0,05 |
| 11 |
An toàn và ổn định |
0,05 |
| Tổng |
|
1,00 |
Nguồn: International Convention Destination, The Competitive Index 2022 – 2023 (dẫn lại trong Luận án)
Về thực tiễn Cần Thơ, văn bản dẫn chứng các chỉ số du lịch: Đến cuối năm 2025, địa bàn có hơn 110 khu, điểm du lịch; trên 860 cơ sở lưu trú với hơn 14.500 phòng và 61 doanh nghiệp lữ hành. Mặc dù doanh thu du lịch năm 2025 đạt 9.991 tỷ đồng, báo cáo đề tài “Phát triển mô hình MICE tại thành phố Cần Thơ” cho thấy các hạn chế cốt lõi: thời gian lưu trú bình quân dưới 2 ngày, mức chi tiêu chưa cao, thiếu các trung tâm tổ chức hội nghị - sự kiện chuyên biệt có sức chứa trên 1.000 khách, sản phẩm MICE phát triển tự phát, hạ tầng đường thủy chưa có cảng du lịch đón tàu lớn, cùng với rủi ro từ thời tiết cực đoan (ngập úng, sạt lở, dông lốc). Chương này khép lại bằng việc xác định 6 mục tiêu, 6 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và kết cấu 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình PRISMA 2020 tổng quan 52 nghiên cứu về TPSD trên Scopus. Tác giả phân tích các khái niệm nền tảng: an toàn điểm đến, TPSD, niềm tin điểm đến, danh tiếng điểm đến và ý định giới thiệu điểm đến.
Dựa trên sự tích hợp mô hình CAB và lý thuyết tín hiệu, chương này thiết lập khung mô hình nghiên cứu và các giả thuyết:
- Tác động trực tiếp: TPSD tác động tích cực đến ý định giới thiệu điểm đến MICE (DRI) và niềm tin điểm đến (DT); DT tác động tích cực đến DRI.
- Tác động trung gian: DT giữ vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa TPSD và DRI.
- Tác động điều tiết: RT đóng vai trò điều tiết trong ba mối quan hệ: giữa TPSD và DRI, giữa TPSD và DT, giữa DT và DRI.
- Khác biệt nhóm: Mối quan hệ cấu trúc và vai trò điều tiết có sự khác biệt giữa du khách MICE nội địa và quốc tế.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu chi tiết:
- Thiết kế thang đo: Kế thừa thang đo TPSD 20 biến quan sát thuộc 5 nhóm khía cạnh của Xie và cộng sự (2021), kết hợp với các thang đo chuẩn về DT, RT và DRI đã được sử dụng trong các nghiên cứu quốc tế.
- Nghiên cứu sơ bộ định tính: Phỏng vấn chuyên gia nhằm điều chỉnh câu từ của thang đo nháp thứ nhất sao cho sát hợp với đặc trưng dịch vụ và cơ sở hạ tầng MICE tại Cần Thơ.
- Nghiên cứu sơ bộ định lượng: Thực hiện khảo sát thử nghiệm trên mẫu $n = 106$ du khách MICE. Kết quả kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha và EFA cho thấy các biến quan sát đều đạt chuẩn về giá trị hội tụ và phân biệt, cho phép đưa vào bảng hỏi chính thức.
- Nghiên cứu chính thức: Thu thập dữ liệu thực địa từ 316 khách du lịch MICE tại các khách sạn, hội nghị trên địa bàn Cần Thơ. Quy định các tiêu chuẩn phân tích PLS-SEM trên phần mềm chuyên dụng: đánh giá hệ số tin cậy tổng hợp CR, AVE, Fornell-Larcker, chỉ số HTMT, kiểm tra đa cộng tuyến (VIF), kiểm tra năng lực dự báo ngoài mẫu bằng PLSpredict và thủ tục kiểm tra bất biến đo lường (MICOM) trước khi chạy phân tích đa nhóm MGA.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 công bố kết quả xử lý dữ liệu với mẫu chính thức $n = 316$:
- Mô hình đo lường bậc một: Tất cả các cấu trúc đo lường phản xạ (PSH, PSFE, PSNE, PSSE, PSM, DT, RT, DRI) đều đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ cao (các chỉ số Cronbach’s Alpha, rho_A, CR đều vượt ngưỡng tiêu chuẩn; phương sai trích trung bình AVE > 0,50). Tiêu chí Fornell-Larcker và tỷ số HTMT đều khẳng định tính phân biệt giữa các khái niệm nghiên cứu.
- Mô hình đo lường bậc hai: Kiểm định cấu trúc bậc hai phản ánh – hình thành của TPSD cho thấy cả 5 thành phần (con người, cơ sở vật chất/thiết bị, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, quản lý) đều đóng góp có ý nghĩa thống kê vào biến tiềm ẩn bậc cao TPSD.
- Kiểm định sai lệch phương pháp chung (CMB): Xác nhận dữ liệu không bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sai lệch phương pháp chung.
- Đánh giá mô hình cấu trúc: Các chỉ số VIF đều ở mức an toàn, không có hiện tượng đa cộng tuyến. Đánh giá mức độ giải thích ($R^2$) và năng lực dự báo ngoài mẫu (PLSpredict và CVPAT so với mức chuẩn IA) chứng minh mô hình có năng lực dự báo thực nghiệm tốt.
- Kiểm định giả thuyết:
- TPSD tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến DT và DRI.
- DT tác động tích cực có ý nghĩa đến DRI, đồng thời giữ vai trò trung gian có ý nghĩa trong mối liên kết từ TPSD đến DRI.
- RT thể hiện vai trò điều tiết có ý nghĩa thống kê: ở những nhóm du khách đánh giá danh tiếng điểm đến cao, tác động của TPSD và DT lên ý định giới thiệu có xu hướng gia tăng mạnh mẽ hơn.
- Phân tích đa nhóm (PLS-MGA): Sau khi quy trình MICOM khẳng định đạt bất biến đo lường, kết quả MGA chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm du khách nội địa và quốc tế ở một số đường dẫn tác động và vai trò điều tiết của danh tiếng. Du khách quốc tế có xu hướng nhạy cảm hơn với các tín hiệu an toàn và danh tiếng trong quá trình định hình niềm tin và quyết định giới thiệu điểm đến.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Chương 5 đúc kết toàn bộ phát hiện thực nghiệm, luận giải các đóng góp học thuật và thực tiễn, phân loại hệ thống hàm ý quản trị chi tiết cho ba chủ thể:
- Cơ quan quản lý du lịch địa phương (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. Cần Thơ): Hoàn thiện quy hoạch không gian MICE, nâng cấp hạ tầng kết nối, thiết lập cơ chế giám sát an ninh trật tự, kiểm soát rủi ro môi trường tự nhiên và xây dựng chiến lược truyền thông danh tiếng điểm đến.
- Các đơn vị tổ chức sự kiện MICE: Thiết lập quy trình vận hành và ứng phó khẩn cấp chuẩn hóa, bảo đảm tính chuyên nghiệp và an toàn kỹ thuật trong toàn bộ chuỗi sự kiện.
- Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ (khách sạn, vận chuyển, ẩm thực): Chuẩn hóa chất lượng phục vụ của nhân sự, nâng cấp cơ sở vật chất phòng hội nghị khép kín, minh bạch thông tin dịch vụ nhằm củng cố niềm tin và sự yên tâm cho khách tham dự.
Chương này cũng chỉ rõ các giới hạn của đề tài và vạch ra các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận và học thuật:
- Đã đánh giá và xác thực thành công mô hình thang đo bậc cao dạng phản ánh – hình thành của TPSD (với 5 thành phần: con người, cơ sở vật chất và thiết bị, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, quản lý) trong bối cảnh du lịch MICE, mở rộng phạm vi kiểm chứng của thang đo do Xie và cộng sự (2021) khởi xướng vốn trước đây chủ yếu áp dụng trong du lịch đại chúng.
- Bổ sung bằng chứng thực nghiệm giải thích cơ chế tác động của nhận thức an toàn đến ý định giới thiệu điểm đến thông qua mô hình CAB, chứng minh niềm tin điểm đến giữ vai trò biến trung gian quan trọng trong việc chuyển hóa đánh giá an toàn thành hành vi truyền miệng tích cực.
- Vận dụng lý thuyết tín hiệu để kiểm định và xác nhận vai trò điều tiết của danh tiếng điểm đến, cho thấy danh tiếng thuận lợi đóng vai trò đòn bẩy làm tăng cường mức độ tác động của an toàn và niềm tin đối với ý định giới thiệu.
- Xác định sự khác biệt giữa hai phân khúc du khách MICE nội địa và quốc tế thông qua phân tích đa nhóm MGA, cung cấp cơ sở cho việc tiếp cận thị trường theo đặc tính nhận thức rủi ro văn hóa.
Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Khẳng định an toàn không chỉ dừng lại ở trật tự trị an đơn thuần mà là một hệ thống đa chiều gắn liền với chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hội nghị và năng lực ứng phó rủi ro tự nhiên.
- Đề xuất mô hình phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị tổ chức sự kiện và cơ sở lưu trú tại Cần Thơ nhằm khắc phục các nút thắt: thiếu trung tâm hội nghị quy mô trên 1.000 khách, sản phẩm dịch vụ thiếu đồng bộ và nhân lực chưa chuyên nghiệp.
- Cung cấp cơ sở định hướng truyền thông danh tiếng điểm đến và chính sách an toàn chuyên biệt cho từng thị trường du khách (nội địa và quốc tế).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án tự ghi nhận các điểm sau:
- Phương pháp chọn mẫu là phi xác suất (kết hợp lấy mẫu thuận tiện và sàng lọc có chủ đích) tại một địa bàn duy nhất là thành phố Cần Thơ, do đó khả năng khái quát hóa kết quả cho toàn bộ các điểm đến MICE khác cần được cân nhắc thận trọng.
- Thiết kế nghiên cứu dạng cắt ngang (cross-sectional) tại một thời điểm, chưa theo dõi được sự biến thiên theo thời gian trong nhận thức an toàn và ý định giới thiệu của khách du lịch sau khi rời khỏi điểm đến.
- Dữ liệu thu thập chủ yếu dựa trên hình thức tự báo cáo của du khách, dù đã kiểm soát sai lệch phương pháp chung (CMB) nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ sai lệch chủ quan.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các trung tâm du lịch MICE lớn khác của Việt Nam như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hoặc Nha Trang để kiểm định tính ổn định của thang đo và mô hình.
- Ứng dụng nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) nhằm đánh giá sự thay đổi của nhận thức an toàn và hành vi giới thiệu thực tế sau chuyến đi.
- Xem xét thêm các biến điều tiết hoặc trung gian tiềm năng khác như sự hài lòng, hình ảnh thương hiệu điểm đến hoặc mức độ gắn kết văn hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị du lịch và khách sạn: Có thể tham khảo phương pháp tổng quan tài liệu có hệ thống theo chuẩn PRISMA 2020 trên Scopus, quy trình kiểm định mô hình đo lường bậc hai phản ánh – hình thành và kỹ thuật phân tích đa nhóm (PLS-MGA) kết hợp kiểm định MICOM bằng PLS-SEM.
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ và vùng ĐBSCL): Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng bộ tiêu chuẩn an toàn cho điểm đến MICE, hoạch định chính sách thu hút khách lưu trú dài ngày và quản lý rủi ro thiên tai.
- Các doanh nghiệp lữ hành, trung tâm hội nghị và khách sạn cao tầng: Giúp nhận diện rõ các tiêu chí an toàn mà khách MICE đặc biệt quan tâm (cơ sở vật chất kỹ thuật, an toàn vệ sinh, phong cách phục vụ của nhân viên) nhằm hoàn thiện quy trình tổ chức và dịch vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm nhận thức an toàn điểm đến (TPSD) trong luận án được cấu trúc từ những thành phần nào?
Trong luận án, TPSD được mô hình hóa là cấu trúc bậc cao dạng phản ánh – hình thành (reflective-formative) gồm 5 thành phần cấu trúc bậc một: (1) Sự an toàn của yếu tố con người (PSH), (2) Sự an toàn về cơ sở vật chất và thiết bị (PSFE), (3) Sự an toàn về yếu tố môi trường tự nhiên (PSNE), (4) Sự an toàn về yếu tố môi trường xã hội (PSSE), và (5) Sự an toàn của yếu tố quản lý (PSM), kế thừa và hiệu chỉnh từ thang đo của Xie và cộng sự (2021).
2. Tiêu chí "An toàn và ổn định" giữ vị trí và trọng số như thế nào trong bộ tiêu chí quốc tế về lựa chọn điểm đến hội nghị được luận án dẫn chứng?
Theo Báo cáo Chỉ số cạnh tranh điểm đến hội nghị quốc tế (The Competitive Index 2022 – 2023 của GainingEdge) được tác giả dẫn lại ở Bảng 1, tiêu chí "An toàn và ổn định" nằm trong 11 tiêu chí đánh giá với trọng số là 0,05 (tương đương 5%), cùng nhóm tỷ trọng với các yếu tố như khả năng di chuyển nội vùng, quy mô thị trường mục tiêu, quy mô nền kinh tế và môi trường kinh doanh.
3. Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát thực nghiệm trong luận án được tiến hành ra sao?
Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp giữa lấy mẫu thuận tiện và sàng lọc có chủ đích (purposive screening) đối với du khách MICE đang trải nghiệm tại Cần Thơ. Quá trình khảo sát gồm hai giai đoạn: khảo sát thử nghiệm sơ bộ với $n = 106$ du khách và khảo sát chính thức với $n = 316$ du khách hợp lệ, được phân tích bằng mô hình PLS-SEM.
4. Danh tiếng điểm đến (RT) đóng vai trò gì trong mô hình nghiên cứu của luận án?
Dựa trên lý thuyết tín hiệu, danh tiếng điểm đến giữ vai trò là biến điều tiết (moderator) trong ba mối quan hệ: giữa TPSD và ý định giới thiệu điểm đến (DRI), giữa TPSD và niềm tin điểm đến (DT), và giữa DT và DRI. Kết quả kiểm định cho thấy danh tiếng thuận lợi sẽ khuếch đại tác động tích cực của an toàn và niềm tin lên ý định giới thiệu của du khách.
5. Vì sao tác giả lựa chọn du khách MICE đang hiện diện tại Cần Thơ thay vì du khách đã trở về sau chuyến đi?
Tác giả lựa chọn đối tượng khảo sát là du khách MICE đang hiện diện thực tế tại Cần Thơ nhằm đảm bảo người trả lời có trải nghiệm trực tiếp tại hiện trường, giúp các đánh giá về mức độ an toàn và cảm nhận dịch vụ mang tính cập nhật và chính xác, tránh các sai lệch do hồi tưởng hoặc biến dạng ký ức nếu khảo sát sau một thời gian dài.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nhật Linh đã phân tích và kiểm định thực nghiệm cơ chế tác động của nhận thức an toàn điểm đến tới ý định giới thiệu điểm đến du lịch MICE tại thành phố Cần Thơ. Bằng việc tích hợp mô hình CAB và lý thuyết tín hiệu thông qua kỹ thuật phân tích PLS-SEM, nghiên cứu đã chứng minh vai trò trung gian của niềm tin điểm đến và vai trò điều tiết của danh tiếng điểm đến, đồng thời chỉ ra sự khác biệt cấu trúc giữa thị trường khách nội địa và quốc tế. Các phát hiện này vừa góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết về hành vi khách MICE đối với an toàn điểm đến, vừa cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ quản trị và phát triển dịch vụ MICE tại thành phố Cần Thơ.