CHƯƠNG 1 Nghiên cứu này nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi an toàn của người lao động cũng như kiểm tra vai trò điều tiết của áp lực công việc trong mối quan hệ giữa động lực an toàn và hành vi an toàn. Trong chưong này, tác giả trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp và phạm vi tiến hành nghiên cứu cũng như ý nghĩa và đóng góp của của nghiên cứu này. 8 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Lãnh đạo an toàn Lãnh đạo an toàn là quá trình mà các nhà lãnh đạo, thông qua tương tác với nhân viên của họ trong môi trường của tổ chức, gây ảnh hưởng và tác động tích cực đến nhân viên nhằm đạt được các mục tiêu an toàn của tổ chức (Wu, 2005). Cohen (1977) kết luận rằng cam kết của các nhà quản lý đối với an toàn là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc quyết định sự thành công của các chương trình an toàn.
Cam kết đó được thể hiện thông qua các hành động cụ thể, chẳng hạn như đến thăm nơi làm việc để kiểm tra tình trạng an toàn và thảo luận về các vấn đề an toàn với nhân viên. Các nghiên cứu sau đó đã góp phần nhấn mạnh tầm quan trọng của lãnh đạo trong việc cải thiện hành vi an toàn của người lao động (Fernandez-Muniz và cộng sự, 2017; Martinez-Corcoles và cộng sự, 2013; Xue và cộng sự, 2020). Lãnh đạo an toàn thường được phân thành hai nhóm phong cách: lãnh đạo quản lý và lãnh đạo chuyển đổi (Bums, 1978). Lãnh đạo quản lý là phong cách lãnh đạo áp dụng các cơ chế khen thưởng và trừng phạt dựa trên hiệu suất để thúc đẩy nhân viên thực hiện công việc một cách an toàn (Bums, 1978).
Nhà lãnh đạo có thể giám sát và đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách thiết lập các mục tiêu rõ ràng và xác định phần thưởng dựa trên các giao kết với nhân viên (B. Bass và Avolio, 2000). Zhu (2005) khuyến nghị rằng các tổ chức nên liên kết hiệu suất công việc của nhân viên với hệ thống khen thưởng và nên cung cấp các nguồn lực phù hợp để thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả. Do các biện pháp khuyến khích được chấp nhận rộng rãi như là phương thức chính để thúc đẩy hành vi an toàn của nhân viên (Hagan và cộng sự, 2001), nên nghiên cứu này tập trung vào biện pháp khuyến khích an toàn như một đại diện của lãnh đạo quản lý để khám phá cách thức khuyến khích an toàn liên quan đến hành vi an toàn của nhân viên.
9 Tiếp theo, Bass và Bernard (1985) giải thích phong cách lãnh đạo chuyển đổi như một cách để thúc đẩy cấp dưới của họ nâng cao hiệu suất bằng cách thay đổi thái độ, niềm tin và giá trị của họ thay vì chỉ tuân theo các chỉ thị của cấp trên. Lãnh đạo chuyển đổi yêu cầu các nhà lãnh đạo phải định hướng mục tiêu, có động lực và quyết tâm tham gia vào các hoạt động an toàn và quan tâm đến sự an toàn của nhân viên (Barling và cộng sự, 2002). Barling và cộng sự (2002) đã có những đóng góp bằng cách giới thiệu khái niệm lãnh đạo chuyển đổi trong lĩnh vực an toàn tại nơi làm việc. Lãnh đạo chuyển đổi về an toàn đòi hỏi sự cam kết cá nhân của người quản lý và sự quan tâm tích cực đến an toàn lao động và phúc lợi của nhân viên.
Sau đó Clarke và Ward (2006) giải thích phong cách lãnh đạo chuyển đổi bao gồm những lời kêu gọi truyền cảm hứng, sử dụng ngôn ngữ cảm xúc để đạt được cam kết của nhân viên bằng cách chuyển đổi hệ thống giá trị của họ để hướng các hành vi cá nhân phù hợp với các mục tiêu của tổ chức. Nhưng dường như những lời tốt đẹp không đủ để sửa đổi hành vi của nhân viên; hành động có thể nhìn thấy từ các nhà quản lý là rất cần thiết để họ có thể xây dựng lòng tin và sự tôn trọng với các nhân viên của mình, nhằm truyền cảm hứng để nhân viên hoàn thành nhiều hơn những kỳ vọng ban đầu (Bass và Bernard, 1985). Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào hai yếu tố là lãnh đạo quan tâm an toàn và lãnh đạo tham gia an toàn như là các khía cạnh lãnh đạo chuyển đổi có thể tác động đến thành tích an toàn của tổ chức (O’Dea và Flin, 2001; Wu và cộng sự, 2011).2 Hành vi an toàn Borman và Motovvidlo (1993) xác định hai thành phần chính của hiệu suất công việc: hiệu suất nhiệm vụ và hiệu suất theo ngữ cảnh. Hiệu suất nhiệm vụ đề cập đến các mẫu hành vi có liên quan trực tiếp đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ hoặc các hoạt động cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp đến các quy trình kỹ thuật cốt lõi của tổ chức (Kahya, 2007).
Nó bao gồm các hoạt động được chính thức công nhận là một phần công việc của nhân viên. Thành tích theo ngữ cảnh có thể hiểu là nỗ lực của cá nhân liên quan trực tiếp đến chức năng nhiệm vụ chính của họ nhưng lại được tạo động lực bởi bối cảnh của tổ chức, xã hội và tâm lý các nhân. 10 Theo nghiên cứu chuyên sâu về an toàn của Martinez-Corcoles (2011), thành tích an toàn của tổ chức được đo lường theo hai cách: với cách tiếp cận đầu tiên, thành tích an toàn có thể được đánh giá thông qua các chỉ số tai nạn và thưong tích tại noi làm việc (Altunkaynak, 2018; Hedlund, 2013; Nenonen, 2011), tai nạn được định nghĩa rộng rãi là sự kiện bất ngờ xảy ra dẫn đến rủi ro về người hoặc thiệt hại về chi phí (Carvalho và cộng sự, 2005), tai nạn thưong tích là tai nạn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người lao động (Martinez-Corcoles và cộng sự, 2011). Điều tra tai nạn liên quan đến công việc cung cấp các nguyên nhân gốc rễ để xác định lỗ hổng hệ thống và thực hiện hành động phòng ngừa thích hợp (Anyfantis và cộng sự, 2021; Shao và cộng sự, 2019).
Theo cách tiếp cận khác, các tác giả đo lường kết quả an toàn của một tổ chức thông qua hành vi an toàn (Cavazotte và cộng sự, 2021; Fernandez-Muniz và cộng sự, 2017; Xue và cộng sự, 2020). Hành vi an toàn là một thành phần quan trọng thể hiện kết quả và thành tích hoạt động an toàn của doanh nghiệp (Lee và cộng sự, 2019; Xue và cộng sự, 2020). Theo nghiên cứu của (Zohar, 2002), hành vi an toàn là tất cả các hành vi có lợi cho sự an toàn của nhân viên, sự an toàn của những người xung quanh hoặc sự an toàn của máy móc, thiết bị và tài sản của doanh nghiệp. Griffin và Neal (2000) đã phân loại hành vi an toàn lao động thành hai yếu tố: hành vi tham gia an toàn và hành vi tuân thủ an toàn.
Các hành vi tuân thủ an toàn là những hoạt động chính mà người lao động cần hoàn thành để đảm bảo an toàn tại nơi làm việc. Nó bao gồm việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình vận hành an toàn, tuân theo các hướng dẫn an toàn như sử dụng thiết bị bảo vệ cá nhân và thực hiện kiểm tra an toàn đối với thiết bị và máy móc trong công việc hàng ngày của họ (Griffin và Neal, 2000). Như vậy, hành vi tuân thủ an toàn đòi hỏi sự nhận thức, ý thức và trách nhiệm cá nhân để tuân thủ các quy tắc và quy định an toàn đã được thiết lập. Điều này bao gồm việc hiểu và tuân thủ các quy định về bảo hộ lao động, sử dụng thiết bị bảo hộ, quy tắc giao thông, quy tắc sử dụng các thiết bị và công cụ, và các biện pháp phòng ngừa nguy hiểm cụ thể.
11 Các hành vi tham gia an toàn đề cập đến các hành vi không trực tiếp cải thiện các điều kiện an toàn lao động, nhưng giúp tạo ra một môi trường an toàn tích cực. Hành vi tham gia bao gồm sự tham gia tích cực của người lao động vào các hoạt động an toàn, tham gia vào các cuộc họp về an toàn (Griffin và Neal, 2000), hoặc chủ động phát hiện các nguy co tiềm ẩn và báo cáo các điều kiện thiếu an toàn để khắc phục kịp thời, tham gia vào quá trình đánh giá và phòng ngừa nguy hiểm: đóng góp ý kiến, tham gia vào việc xác định và đánh giá các nguy cơ và nguy hiểm có thể xảy ra trong môi trường làm việc hoặc hoạt động cụ thể, và đề xuất các biện pháp phòng ngừa và cải thiện an toàn. Tham gia an toàn cũng bao gồm các hành vi hỗ trợ các mục tiêu và mục tiêu của tổ chức trong lĩnh vực này (Vinodkumar và Bhasi, 2010), và do đó, liên quan đến yếu tố tự nguyện lớn hơn so với việc tuân thủ an toàn, bao gồm các hành vi vượt ra ngoài vai trò chính thức của nhân viên, hay nói cách khác hành vi tham gia an toàn là hành vi mà người lao động thể hiện vai trò công dân của tổ chức (Clarke và Ward, 2006).3 Động lực an toàn Mặc dù không có sự đồng nhất về định nghĩa về động lực, hầu hết các nhà tâm lý học mô tả nó là bất kỳ trạng thái nội tại nào được suy đoán là khởi động, kích hoạt hoặc duy trì hành vi hướng đến mục tiêu (Lefton và Brannon, 2005). Động lực an toàn do đó liên quan đến sự sẵn lòng của cá nhân để nỗ lực thực hiện các hành vi an toàn và giá trị két hợp với những hành vi đó (Neal và Griffin, 2006).
Nó cũng có thể được hiểu là thái độ và nhận thức liên quan đến những yếu tố thúc đẩy hành vi an toàn hoặc không an toàn (Williamson và cộng sự, 1997). Vì đã được ghi nhận rằng động lực sẽ ảnh hưởng tích cực đến hành vi (Miller, 1988), những người có động lực tham gia vào hành vi an toàn nên có khả năng thực hiện những hành vi này. Theo dựa trên các lý thuyết về hiệu suất công việc (Borman & Motowidlo, 1993; Campbell et al., 1993) thì (Neal & Griffin, 1997) đề xuất mô hình phân biệt giữa các tiền đề của hiệu suất công việc, nhân tố quyết định của hiệu suất công việc và thành phần của hiệu suất công việc. (Neal et al., 2000) xem xét sự môi trường an toàn là tiền đề của hiệu suất an toàn, kiến thức an toàn và động lực an toàn là nhân tố quyết 12 định của hiệu suất an toàn, trong đó tuân thủ an toàn và tham gia an toàn là các thành phần của hiệu suất an toàn.