mở đầu đã đề cập, luận 5 Thành viên ngành: theo giải thích của tác giả thì các công ty sản xuất và phi sản xuất có thể thực hiện chiết khấu để tăng doanh thu, tuy nhiên các công ty sản xuất có một chiến lƣợc để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận là sản xuất dƣ thừa. Do đó, các bằng chứng về sản xuất dƣ thừa, chi phí sản xuất bất thƣờng thuộc về các ngành công nghiệp sản xuất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 văn này chỉ nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thực hiện thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích). Nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính nữ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Khá nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng giới tính có ảnh hƣởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Một số nghiên cứu tiêu biểu nhƣ là: 1. Nghiên cứu về ảnh hƣởng của giới tính Nữ trong HĐQT đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Kramer et al (2006) nghiên cứu về mức tới hạn (Critical Mass) trong ban điều hành với nhan đề: Vì sao ban điều hành nên là ba hoặc nhiều thanh viên nữ hơn? Kết quả nghiên cứu cho thấy số lƣợng phụ nữ cao trong HĐQT có thể tạo ra một sự khác biệt đáng kể. Nếu chỉ có một phụ nữ duy nhất, thƣờng không có những đóng góp đáng kể, nhƣng khi số lƣợng phụ nữ tăng lên gấp đôi, lên gấp ba hoặc nhiều hơn, tiếng nói và ý tƣởng của phụ nữ sẽ đƣợc lắng nghe và họ sẽ làm tăng sự năng động của HĐQT một cách đáng kể. Sự kỳ diệu này sẽ xảy ra khi ba hoặc nhiều hơn phụ nữ hiện diện trong HĐQT, số lƣợng phụ nữ này có thể ảnh hƣởng tích cực đến quản trị công ty.
Phụ nữ đƣợc coi là cá nhân với tính cách, phong cách, và lợi ích khác nhau. Xu hƣớng của phụ nữ là hợp tác nhiều hơn, chủ động hơn trong việc đƣa ra những câu hỏi về những vấn đề khác nhau trong các buổi thảo luận để tăng cƣờng tính hiệu lực cho hội đồng quản trị. Bermig & Bernd (2010) nghiên cứu ảnh hƣởng của giới tính nữ trong HĐQT, thành phần HĐQT và quy mô HĐQT tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 294 công ty niêm yết ở Đức, tƣơng ứng với khoảng 2.400 quan sát trong giai đoạn 1998-2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy giới tính nữ trong HĐQT có thể nâng cao hiệu suất của HĐQT trong việc giám sát các CEO, cải thiện sự trao đổi thông tin, nâng cao hiệu suất hoạt động và từ đó giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của ban giám đốc.
Nghiên cứu của Srinidhi et al (2011, theo Man & Wong 2013) cũng xác nhận kết quả tƣơng tự. Gulzar & Wang (2011) nghiên cứu về đặc điểm quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 1009 công ty niêm yêt ở Trung Quốc trong giai đoạn 4 năm (từ 2002 tới 2006), kết quả nghiên cứu cho thấy số lƣợng nữ trong HĐQT cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Ismail & Abdullah (2013) nghiên cứu về ảnh hƣởng giới tính nữ trong HĐQT và Ủy ban kiểm toán đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, tại các công ty ở Malaysia, với mẫu là 639 công ty niêm yết vào năm 2008 cũng xác định kết quả nghiên cứu tƣơng tự. Và nghiên cứu Lakhal et all (2015) cũng đƣa ra kết quả tƣơng tự nhƣ các nghiên cứu trên.
Gavious, Segev & Yosef (2012) nghiên cứu ảnh hƣởng của giới tính nữ trong HĐQT, Ban Giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại 60 công ty kỹ thuật số/công nghệ cao (high-technology firms) của Israel, niêm yết ở Mỹ trong giai đoạn 2002-2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa tỷ lệ nữ giới trong HĐQT với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Arun et al (2015) cũng nghiên cứu ảnh hƣởng của giới tính nữ trong HĐQT, Ban Giám đốc tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 1217 quan sát trong giai đoạn 2005-2011 cho các công ty niêm yết ở Anh. Tác giả đã sử dụng mô hình modified Jones tức mô hình của Dechow et al (1995) để tính biến dồn tích có điều chỉnh DA cho dữ liệu chéo (cross-section), sau đó tiến hành hồi quy mô hình OLS.
Kết quả nghiên cứu cho thấy số lƣợng nữ giới trong HĐQT cao sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tác giả còn tìm ra một kết luận khác là số lƣợng thành viên nữ điều hành trong HĐQT càng cao thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Man & Wong (2013) nghiên cứu về ảnh hƣởng của quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng phƣơng pháp tổng hợp, phân tích các nghiên cứu trƣớc. Kết quả nghiên cứu cho thấy giới tính nữ trong HĐQT sẽ có thể giúp nâng cao sự tin cậy đối với sự lãnh đạo và giúp nâng cao khả năng chống lại rủi ro gian lận và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Lakhal et all (2015) nghiên cứu ảnh hƣởng của sự đa dạng giới tính trong HĐQT và Ban Giám đốc đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 170 công ty niêm yết tại Pháp trong giai đoạn 4 năm từ 2008 tới 2011.Tác giả tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa công ty có ít nhất trở lên ba phụ nữ trong HĐQT và hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Nghiên cứu của Lakhal et all (2015) cho thấy, phụ nữ có một mối quan tâm lớn hơn về mối quan hệ giữa các cá nhân và thƣờng công bằng hơn khi họ ở cùng vị trí quyền lực so với nam giới. Thông qua các nghiên cứu, tác giả nhận xét rằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 đàn ông và phụ nữ khác nhau về đặc điểm và hành vi, phụ nữ thƣờng nhận thức đạo đức cao hơn đàn ông. Phụ nữ không chỉ thận trọng hơn so với nam giới, mà còn ít bị chủ nghĩa cơ hội trong việc ra quyết định. Điều này càng thấy rõ hơn khi phụ nữ ở các vị trí cao nhất nhƣ chủ tịch hội đồng quản trị.
Nữ chủ tịch HĐQT thƣờng có thể có nhiều khả năng để phát hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tránh nguy cơ kiện tụng và mất danh tiếng bởi vì họ không dễ dàng ở vào các vị trí nhƣ nam giới. Cuối cùng, tác giả đã kết luận rằng khi chủ tịch HĐQT là nữ thì sẽ có mối quan hệ nghịch chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Kyaw et al (2015) kiểm tra sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng phƣơng pháp kiểm định mô hình hồi quy với dữ liệu bảng cho 970 công ty ở Châu Âu trong giai đoạn 2002-2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy số lƣợng nữ trong HĐQT làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận với điều kiện là phải có sự cân bằng giới tính trong HĐQT.
Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của sự trao quyền cho nữ giới ở nơi làm việc trong việc đạt đƣợc những lợi ích tiềm năng của nó. Nữ giới trong HĐQT có thể mang lại các lợi ích cho công ty nếu họ đƣợc trao quyền thực sự trong môi trƣờng làm việc. Nghiên cứu về ảnh hƣởng của giới tính Nữ trong Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Khá nhiều nghiên cứu đã chứng minh ảnh hƣởng của giới tính Nữ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Zahra et al (2007), trong nghiên cứu về “Hiểu biết về nguyên nhân và hậu quả về gian lận của Ban Giám đốc”.
Tác giả cho rằng một số đặc tính cá nhân (Individual characteristics) nhƣ tuổi, giới tính, kinh nghiệm, giáo dục của Ban giám đốc-bên cạnh các áp lực của xã hội, ngành nghề hay tổ chức-ảnh hƣởng đến hành vi gian lận. Nam giới thƣờng đƣợc cho là sẵn sàng chấp nhận các hành vi trái đạo đức để đạt đƣợc mục tiêu của họ nhiều hơn là nữ giới. Nam giới thƣờng là thủ phạm chính của gian lận trong tổ chức có thể bởi vì họ muốn tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong tổ chức. Peni & Vähämaa (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa CEO và CFO là nữ với hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 391 công ty tƣơng ứng với 1955 quan sát của 4 ngành trong giai đoạn 2003-2007, bằng phƣơng pháp hồi quy với dữ liệu bảng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khi CFO là nữ thì sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 nhuận, tuy nhiên tác giả không tìm thấy mối quan hệ khi CEO là nữ và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu Gavious, Segev & Yosef (2012) đã dẫn ở trên cho thấy hành vi điều chỉnh lợi nhuận thấp hơn khi CEO hoặc CFO là nữ giới. Khan & Vieito (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa giới tính CEO và hiệu quả hoạt động của công ty tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1992-2004. Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu CEO là nữ thì mức độ rủi ro của công ty sẽ nhỏ hơn so với khi CEO là nam.
Ngƣợc lại với các nghiên cứu trên, nghiên cứu của Arun et al (2015) đã dẫn ở trên cho thấy khi CFO là nữ thì không ảnh hƣởng tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Lakhal et all (2015) nghiên cứu đã dẫn ở trên cho thấy khi CEO và CFO là nữ thì không ảnh hƣởng mạnh đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Duong & Evans (2016) nghiên cứu sự ảnh hƣởng của giới tính nữ CFO đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho các công ty niêm yết ở Úc trong giai đoạn 2006- 2010 bằng phƣơng pháp hồi quy với dữ liệu bảng của 556 quan sát. Nghiên cứu nhắm xem xét ảnh hƣởng của CFO là nữ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến dồn tích (AEM) và hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế (REM).
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tƣơng quan nghịch giữa CFO là nữ và hành vi điều chỉnh lợi nhuận cả cho AEM và REM tức khi CFO là nữ thì sẽ làm giảm hành vi này. Các nghiên cứu trong nƣớc 1. Một số nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận Hiện ở Việt Nam chƣa có nhiều nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận, một số nghiên cứu về chủ đề này nhƣ sau: Phạm Thị Bích Vân (2012) nghiên cứu về mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán TP. Nghiên cứu này phân tích sự phù hợp của mô hình Modified Jones trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 54 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM (HOSE) trong niên độ kế toán 2010.