CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ HÀNH VI THAO TÚNG LỢI NHUẬN 1. Lý luận về giao dịch với các bên liên quan Theo công bố thông tin về các bên liên quan của IAS 24, giao dịch với các bên liên quan được xác định như sau: Giao dịch với bên liên quan là sự chuyển giao các nguồn lực, dịch vụ hoặc nghĩa vụ giữa đơn vị báo cáo và một bên liên quan, bất kể giá được tính như nào. Mục tiêu của Chuẩn mực này là đảm bảo rằng báo cáo tài chính của đơn vị phải trình bày các thuyết minh để lưu ý người sử dụng báo cáo rằng khả năng tình hình tài chính và kết quả lãi lỗ có thể bị ảnh hưởng bởi sự tồn tại của các bên liên quan cũng như các giao dịch và số dư với các bên liên quan này. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 26 – VAS 26 thông tin thuyết minh về các bên liên quan được xác định như sau: Các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả năng kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định các chính sách tài chính và hoạt động.
Ngoài ra Báo cáo tài chính phải trình bày một số mối quan hệ nhất định giữa các bên liên quan. Các quan hệ thường được chú ý là giao dịch của những người lãnh đạo doanh nghiệp, đặc biệt là khoản tiền lương và các khoản tiền vay của họ, do vai trò quan trọng của họ đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần trình bày các giao dịch lớn có tính chất liên công ty và số dư các khoản đầu tư lớn với tập đoàn, với các công ty liên kết và với Ban Giám đốc. Chuẩn mực kế toán số 25 "Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con", Chuẩn mực kế toán số 07 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết” yêu cầu trình bày danh sách các công ty con và các công ty liên kết.
Chuẩn mực kế toán “Lãi, lỗ thuần trong kỳ, các sai sót cơ bản và các thay đổi trong chính sách kế toán” yêu cầu trình bày các khoản mục doanh thu, chi phí được bao gồm trong việc xác định lãi hoặc lỗ từ các hoạt động thông thường mà với quy mô, tính chất và ảnh hưởng của chúng khi trình bày trong báo cáo tài chính sẽ diễn giải phù hợp hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Các giao dịch chủ yếu giữa các bên liên quan cũng phải được trình bày trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp báo cáo trong kỳ mà các giao dịch đó có ảnh hưởng, gồm: - Mua hoặc bán hàng (thành phẩm hay sản phẩm dở dang); - Mua hoặc bán tài sản cố định và các tài sản khác; 13 - Cung cấp hay nhận dịch vụ; - Giao dịch đại lý; - Giao dịch thuê tài sản; - Chuyển giao về nghiên cứu và phát triển; - Thỏa thuận về giấy phép; - Các khoản tài trợ (bao gồm cho vay và góp vốn bằng tiền hoặc hiện vật); - Bảo lãnh và thế chấp; - Các hợp đồng quản lý. Theo một số nghiên cứu, Kang và cộng sự (2014) định nghĩa RPT là giao dịch với các thực tế có liên quan như cổ đông, thành viên hội đồng quản trị và các công ty liên kết. Huang và Liu (2010) đề cập đến các thành viên của hội đồng quản trị và các nhà quản lý điều hành hàng đầu ngoài những người thân trong gia đình họ, là những bên tiềm năng có thể xảy ra RPT.
Lý luận về hành vi thao túng lợi nhuận Vấn đề thao túng lợi nhuận (EM) không phải là mới trong ngành kế toán khi mà các hoạt động thao túng kế toán đã có từ những năm 19970 và còn tiếp diễn đến ngày nay. Có nhiều định nghĩa về EM trong các tài liệu trước đây, theo Healy và Wahlen (1999) “việc quản trị lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng xét đoán trong báo cáo tài chính và bằng cách sử dụng phương pháp kế toán hay ước tính kế toán trong các giao dịch để điều chỉnh BCTC, làm cho thông tin trên BCTC bị sai lệch dẫn đến sự hiểu sai về tình hình hoạt động kinh doanh của DN cho cổ đông và các bên liên quan; hoặc nhằm thay đổi hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu báo cáo kế toán”. Schipper (1989) cũng cho rằng quản trị lợi nhuận là “một sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình công bố BCTC ra ngoài, với mục đích đạt được một số lợi ích cá nhân”. Định nghĩa gần đây hơn của Callao và cộng sự (2014) kết hợp nhiều yếu tố được các nhà nghiên cứu trước đó đề cập.
Định nghĩa gần đây này nói rằng quản trị lợi nhuận là “một biện pháp can thiệp có mục đích vào báo cáo tài chính, được thiết kế để đạt được các mục tiêu thu nhập bằng các phương pháp kế toán khác nhau. Tuy nhiên, nó có thể diễn ra mà không nhất thiết phải vi phạm các quy định kế toán bằng cách tận dụng các khả năng lựa chọn trong chính sách kế toán. Hành động này có thể gây hiểu lầm cho các bên liên quan, khiến 14 họ phải đưa ra quyết định trên cơ sở các báo cáo tài chính mà lẽ ra họ không thể thực hiện theo cách khác”. Từ đó có thể nói rằng EM là một hành động có mục đích và có những trường hợp các nhà quản lí đã cố tình tháo túng các con số kế toán.
Vì vậy, phải thận trọng khi các doanh nghiệp có tình trạng quản trị lợi nhuận. Vậy thì động cơ để các nhà quản lý tiến hành quản trị lợi nhuận là gì? Tại Việt Nam, Phạm Thị Bích Vân (2017) nghiên cứu và tìm thấy động cơ quản trị lợi nhuận như sau: (1) Thu hút tài trợ: Có nhiều hình thức các doanh nghiệp tiến hành thu hút vốn đầu tư, phổ biến nhất là IPO – lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng và phát hành trái phiếu. Khi đó, các nhà quản trị sẽ thực hiện điều chỉnh tăng lợi nhuận tối đa (nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc trong phạm vi, chuẩn mực kế toán) để đạt được mục đích huy động vốn, thu hút các nhà đầu tư và nâng cao giá trị thị trường của cổ phiếu. (2) Động cơ hợp đồng: - Điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh vi phạm hợp đồng vay: Nếu doanh nghiệp vi phạm hợp đồng đi vay, có thể các chủ nợ sẽ tăng lãi suất các khoản nợ hoặc đề nghị DN thanh toán nợ ngay lập tức.
Sở dĩ có điều này, là vì doanh nghiệp trả lãi vay bằng lợi nhuận kiếm được. Khi lợi nhuận không tốt kéo theo khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp cũng giảm theo. Điều này đe dọa đến rủi ro trong thu hồi vốn của các chủ nợ. Và hệ quả là để giảm thiếu rắc rối liên quan đến hợp đồng đi vay, các nhà quản trị có động cơ ĐCLN tăng lên.
Mặt khác, Một DN có lợi nhuận tốt cũng là điều kiện giúp họ đi vay dễ dàng hơn. - Hợp đồng thu lao của các nhà quản lý: Trên thực tế, các doanh nghiệp niêm yết có chế độ lương thưởng đối với nhà quản lý thường sẽ là tỷ lệ phần trăm như thỏa thuận xlợi nhuận kế toán (Phạm Thị Bích Vân, 2013). Bởi vậy lợi nhuận kế toán gắn liền trực tiếp đến tiền lương, thưởng của nhà quản lý, nên trong trường hợp này các nhà quản trị có động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán. Mặt khác, hợp đồng thù lao còn được thỏa thuận giữa nhà quản lý và doanh nghiệp theo điều khoản như sau: doanh nghiệp sẽ đặt ra một mức lợi nhuận nào đó và nhà quản lý sẽ được thưởng nếu đạt được lợi nhuận như mong muốn của doanh nghiệp hoặc cũng không 15 được thưởng thêm nếu lợi nhuận vượt quá mục tiêu đặt ra.
Trong trường hợp này, nhà quản lý sẽ có động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận tối đa đến mức đặt ra nếu lợi nhuận là thấp hơn. Nếu lợi nhuận vượt qua mục tiêu, lúc này nhà quản trị lại có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận để chuyển sang kỳ kế tiếp. Điều này được xác nhận ở nghiên cứu của Healy (1985). (3) Động cơ đáp ứng các quy định từ phía nhà nước hoặc với áp lực để đưa ra các chính sách có lợi: những chính sách, quy định của Nhà nước như: thay đổi thuế suất thuế TNDN, chính sách ưu đãi cho một số doanh nghiệp đang gặp khó khăn hay chính sách nới lỏng các quy định về thuế.
là một trong những động cơ để nhà quản lí quản trị lợi nhuận. Có nhiều động cơ để các nhà quản lý quản trị lợi nhuận theo nhiều cách, song các nghiên cứu trước đây đã phân loại thực tiễn quản trị lợi nhuận thành hai loại lớn, đó là quản trị lợi nhuận dồn tích (AEM) và quản trị lợi nhuận thực tế (REM) (ví dụ: Ewert và Wagenhofer, 2005; Gunny, 2010): 1. Thao túng lợi nhuận dồn tích và mô hình đo lường Quản trị lợi nhuận dồn tích AEM là cách thức nhà quản lý sử dụng các chính sách kế toán được cho phép bởi các nguyên tắc kế toán được thừa nhận (General Accounting Accepted Principles – GAAP) để tác động đến lợi nhuận. Ví dụ, lựa chọn chính sách kế toán để ghi nhận giá trị hàng tồn kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) hoặc bình quân gia quyền.
Quản trị lợi nhuận dồn tích có sự đảo ngược dồn tích trong giai đoạn sau khi thao tác. Lợi nhuận tăng vào thời điểm này thì lợi nhuận kỳ sau sẽ giảm xuống. Ngược lại, lợi nhuận hiện tại giảm theo phương pháp dồn tích sẽ làm tăng lợi nhuận trong kỳ tiếp theo. Việc quản trị lợi nhuận theo phương pháp dồn tích không ảnh hưởng đến dòng tiền của công ty.
Khoản lợi nhuận tích lũy có thể được chia thành hai thành phần, đó là lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh và lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh. Các khoản dồn tích không thể điều chỉnh là các khoản dồn tích được xác định bởi các điều kiện kinh tế bình thường của công ty (Xiong, 2006). Các khoản tích lũy điều chỉnh là các khoản tích lũy không được quy định trong hợp đồng và là chính sách lựa chọn của người quản lý. Do đó, các khoản dồn tích tùy ý được cho là kết quả của chủ nghĩa cơ hội của người quản lý.
16 Để đo lường và hiểu rõ hơn về AEM, dựa vào mối quan hệ giữa báo cáo LCTT và báo cáo KQHĐKD.