Ảnh hưởng của giao dịch với các bên liên quan đến hành vi thao túng lợi nhuận bằng chứng thực nghiệm ở việt nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của giao dịch với các bên liên quan đến hành vi thao túng lợi nhuận tại Việt Nam, cung cấp bằng chứng thực nghiệm.

Trường đại học

Học viện ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

75
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tổng quan nghiên cứu

0.3. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới

0.4. Tổng quan các nghiên cứu trong nước

0.5. Khoảng trống nghiên cứu

0.6. Tính mới của đề tài

0.7. Mục tiêu của đề tài

0.8. Câu hỏi nghiên cứu

0.9. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.10. Phương pháp nghiên cứu

0.11. Cấu trúc bài nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ HÀNH VI THAO TÚNG LỢI NHUẬN

1.1. Lý luận về giao dịch với các bên liên quan

1.2. Lý luận về hành vi thao túng lợi nhuận

1.3. Thao túng lợi nhuận dồn tích và mô hình đo lường

1.4. Thao túng lợi nhuận thực tế và mô hình đo lường

1.5. Ảnh hưởng của giao dịch với các bên liên quan đến thao túng lợi nhuận của các doanh nghiệp

1.6. TÓM TẮT CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA RPT ĐẾN HÀNH VI THAO TÚNG LỢI NHUẬN

2.1. Giả thuyết nghiên cứu

2.2. Mô hình nghiên cứu đánh giá tác động của giao dịch với các bên liên quan đến hành vi thao túng lợi nhuận

2.3. Lựa chọn mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu

2.4. Thống kê mô tả các biến trong mô hình

2.5. TÓM TẮT CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả mô hình hồi quy tác động của giao dịch với các bên liên quan đến hành vi thao túng lợi nhuận

3.2. Tác động của giao dịch với các bên liên quan đến hành vi thao túng lợi nhuận bằng cơ sở dồn tích (AEM)

3.3. Tác động của giao dịch với các bên liên quan đến hành vi thao túng lợi nhuận bằng nghiệp vụ thực tế (REM)

3.4. Thảo luận kết quả

3.5. TÓM TẮT CHƯƠNG III

4. CHƯƠNG 4: KHUYẾN NGHỊ CHO CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI

4.1. Khuyến nghị và đề xuất cho các bên liên quan

4.2. Hạn chế của nghiên cứu

4.3. Định hướng nghiên cứu mới

4.4. TÓM TẮT CHƯƠNG IV

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Của Giao Dịch Với Các Bên Liên Quan

Giao dịch với các bên liên quan (RPT) là một khía cạnh quan trọng trong quản lý tài chính của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, RPT không chỉ là một phần của hoạt động kinh doanh mà còn có thể ảnh hưởng đến hành vi thao túng lợi nhuận. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa RPT và hành vi thao túng lợi nhuận, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và thách thức trong quản lý tài chính doanh nghiệp.

1.1. Khái Niệm Về Giao Dịch Với Các Bên Liên Quan

Giao dịch với các bên liên quan đề cập đến các giao dịch giữa doanh nghiệp và các bên có liên quan như cổ đông, ban lãnh đạo, và các công ty con. Những giao dịch này có thể ảnh hưởng đến báo cáo tài chính và hành vi thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Nghiên Cứu RPT

Nghiên cứu RPT là cần thiết để hiểu rõ hơn về cách thức mà các doanh nghiệp có thể thao túng lợi nhuận thông qua các giao dịch này. Điều này không chỉ giúp cải thiện tính minh bạch mà còn bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Giao Dịch Với Các Bên Liên Quan

Mặc dù RPT có thể mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các giao dịch này có thể dẫn đến hành vi thao túng lợi nhuận, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính. Việc thiếu quy định rõ ràng và sự giám sát có thể tạo điều kiện cho các hành vi gian lận.

2.1. Rủi Ro Từ Giao Dịch Với Các Bên Liên Quan

RPT có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp thực hiện các giao dịch không công bằng, gây thiệt hại cho các cổ đông thiểu số. Điều này làm gia tăng rủi ro cho các nhà đầu tư và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của thị trường.

2.2. Thiếu Minh Bạch Trong Giao Dịch

Nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam chưa công bố thông tin đầy đủ về RPT, dẫn đến sự thiếu minh bạch. Điều này không chỉ làm giảm lòng tin của nhà đầu tư mà còn tạo ra những nghi ngờ về tính chính xác của báo cáo tài chính.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của RPT Đến Hành Vi Thao Túng Lợi Nhuận

Để đánh giá tác động của RPT đến hành vi thao túng lợi nhuận, nghiên cứu sử dụng các phương pháp định lượng và định tính. Các mô hình hồi quy được áp dụng để phân tích dữ liệu từ các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.

3.1. Mô Hình Hồi Quy Đánh Giá Tác Động

Mô hình hồi quy được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa RPT và hành vi thao túng lợi nhuận. Kết quả cho thấy có sự tương quan tích cực giữa các giao dịch với bên liên quan và hành vi thao túng lợi nhuận.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Từ Doanh Nghiệp

Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết, giúp cung cấp cái nhìn rõ ràng về cách thức mà RPT ảnh hưởng đến lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính khác.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ảnh Hưởng Của RPT

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giao dịch với các bên liên quan có tác động đáng kể đến hành vi thao túng lợi nhuận. Các doanh nghiệp có tần suất RPT cao thường có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận để đáp ứng các yêu cầu tài chính.

4.1. Tác Động Đến Lợi Nhuận Dồn Tích

Nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp sử dụng RPT để thao túng lợi nhuận dồn tích, từ đó tạo ra những báo cáo tài chính không chính xác và gây ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.

4.2. Tác Động Đến Lợi Nhuận Thực Tế

Ngoài việc thao túng lợi nhuận dồn tích, RPT cũng được sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận thực tế, làm giảm tính chính xác của các báo cáo tài chính và gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư.

V. Khuyến Nghị Đối Với Các Bên Liên Quan

Để giảm thiểu rủi ro từ RPT, cần có các quy định chặt chẽ hơn về việc công bố thông tin và giám sát các giao dịch này. Các cơ quan quản lý cần tăng cường kiểm tra và giám sát để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong các giao dịch.

5.1. Tăng Cường Quy Định Về RPT

Cần có các quy định rõ ràng về việc công bố thông tin liên quan đến RPT để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông và tăng cường tính minh bạch trong báo cáo tài chính.

5.2. Nâng Cao Ý Thức Về Minh Bạch

Các doanh nghiệp cần nâng cao ý thức về việc công bố thông tin và thực hiện các giao dịch một cách minh bạch để tạo lòng tin với nhà đầu tư và các bên liên quan.

VI. Kết Luận Về Ảnh Hưởng Của Giao Dịch Với Các Bên Liên Quan

Nghiên cứu cho thấy rằng giao dịch với các bên liên quan có ảnh hưởng lớn đến hành vi thao túng lợi nhuận tại Việt Nam. Việc hiểu rõ mối quan hệ này là cần thiết để cải thiện tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường tài chính.

6.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về RPT

Nghiên cứu trong tương lai cần tiếp tục khai thác sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến RPT và hành vi thao túng lợi nhuận, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới

Cần có các nghiên cứu mới để đánh giá tác động của các yếu tố bên ngoài như chính sách tài chính và môi trường kinh doanh đến RPT và hành vi thao túng lợi nhuận.

10/07/2025
Ảnh hưởng của giao dịch với các bên liên quan đến hành vi thao túng lợi nhuận bằng chứng thực nghiệm ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ HÀNH VI THAO TÚNG LỢI NHUẬN 1. Lý luận về giao dịch với các bên liên quan Theo công bố thông tin về các bên liên quan của IAS 24, giao dịch với các bên liên quan được xác định như sau: Giao dịch với bên liên quan là sự chuyển giao các nguồn lực, dịch vụ hoặc nghĩa vụ giữa đơn vị báo cáo và một bên liên quan, bất kể giá được tính như nào. Mục tiêu của Chuẩn mực này là đảm bảo rằng báo cáo tài chính của đơn vị phải trình bày các thuyết minh để lưu ý người sử dụng báo cáo rằng khả năng tình hình tài chính và kết quả lãi lỗ có thể bị ảnh hưởng bởi sự tồn tại của các bên liên quan cũng như các giao dịch và số dư với các bên liên quan này. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 26 – VAS 26 thông tin thuyết minh về các bên liên quan được xác định như sau: Các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả năng kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định các chính sách tài chính và hoạt động.

Ngoài ra Báo cáo tài chính phải trình bày một số mối quan hệ nhất định giữa các bên liên quan. Các quan hệ thường được chú ý là giao dịch của những người lãnh đạo doanh nghiệp, đặc biệt là khoản tiền lương và các khoản tiền vay của họ, do vai trò quan trọng của họ đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần trình bày các giao dịch lớn có tính chất liên công ty và số dư các khoản đầu tư lớn với tập đoàn, với các công ty liên kết và với Ban Giám đốc. Chuẩn mực kế toán số 25 "Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con", Chuẩn mực kế toán số 07 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết” yêu cầu trình bày danh sách các công ty con và các công ty liên kết.

Chuẩn mực kế toán “Lãi, lỗ thuần trong kỳ, các sai sót cơ bản và các thay đổi trong chính sách kế toán” yêu cầu trình bày các khoản mục doanh thu, chi phí được bao gồm trong việc xác định lãi hoặc lỗ từ các hoạt động thông thường mà với quy mô, tính chất và ảnh hưởng của chúng khi trình bày trong báo cáo tài chính sẽ diễn giải phù hợp hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Các giao dịch chủ yếu giữa các bên liên quan cũng phải được trình bày trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp báo cáo trong kỳ mà các giao dịch đó có ảnh hưởng, gồm: - Mua hoặc bán hàng (thành phẩm hay sản phẩm dở dang); - Mua hoặc bán tài sản cố định và các tài sản khác; 13 - Cung cấp hay nhận dịch vụ; - Giao dịch đại lý; - Giao dịch thuê tài sản; - Chuyển giao về nghiên cứu và phát triển; - Thỏa thuận về giấy phép; - Các khoản tài trợ (bao gồm cho vay và góp vốn bằng tiền hoặc hiện vật); - Bảo lãnh và thế chấp; - Các hợp đồng quản lý. Theo một số nghiên cứu, Kang và cộng sự (2014) định nghĩa RPT là giao dịch với các thực tế có liên quan như cổ đông, thành viên hội đồng quản trị và các công ty liên kết. Huang và Liu (2010) đề cập đến các thành viên của hội đồng quản trị và các nhà quản lý điều hành hàng đầu ngoài những người thân trong gia đình họ, là những bên tiềm năng có thể xảy ra RPT.

Lý luận về hành vi thao túng lợi nhuận Vấn đề thao túng lợi nhuận (EM) không phải là mới trong ngành kế toán khi mà các hoạt động thao túng kế toán đã có từ những năm 19970 và còn tiếp diễn đến ngày nay. Có nhiều định nghĩa về EM trong các tài liệu trước đây, theo Healy và Wahlen (1999) “việc quản trị lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng xét đoán trong báo cáo tài chính và bằng cách sử dụng phương pháp kế toán hay ước tính kế toán trong các giao dịch để điều chỉnh BCTC, làm cho thông tin trên BCTC bị sai lệch dẫn đến sự hiểu sai về tình hình hoạt động kinh doanh của DN cho cổ đông và các bên liên quan; hoặc nhằm thay đổi hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu báo cáo kế toán”. Schipper (1989) cũng cho rằng quản trị lợi nhuận là “một sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình công bố BCTC ra ngoài, với mục đích đạt được một số lợi ích cá nhân”. Định nghĩa gần đây hơn của Callao và cộng sự (2014) kết hợp nhiều yếu tố được các nhà nghiên cứu trước đó đề cập.

Định nghĩa gần đây này nói rằng quản trị lợi nhuận là “một biện pháp can thiệp có mục đích vào báo cáo tài chính, được thiết kế để đạt được các mục tiêu thu nhập bằng các phương pháp kế toán khác nhau. Tuy nhiên, nó có thể diễn ra mà không nhất thiết phải vi phạm các quy định kế toán bằng cách tận dụng các khả năng lựa chọn trong chính sách kế toán. Hành động này có thể gây hiểu lầm cho các bên liên quan, khiến 14 họ phải đưa ra quyết định trên cơ sở các báo cáo tài chính mà lẽ ra họ không thể thực hiện theo cách khác”. Từ đó có thể nói rằng EM là một hành động có mục đích và có những trường hợp các nhà quản lí đã cố tình tháo túng các con số kế toán.

Vì vậy, phải thận trọng khi các doanh nghiệp có tình trạng quản trị lợi nhuận. Vậy thì động cơ để các nhà quản lý tiến hành quản trị lợi nhuận là gì? Tại Việt Nam, Phạm Thị Bích Vân (2017) nghiên cứu và tìm thấy động cơ quản trị lợi nhuận như sau: (1) Thu hút tài trợ: Có nhiều hình thức các doanh nghiệp tiến hành thu hút vốn đầu tư, phổ biến nhất là IPO – lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng và phát hành trái phiếu. Khi đó, các nhà quản trị sẽ thực hiện điều chỉnh tăng lợi nhuận tối đa (nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc trong phạm vi, chuẩn mực kế toán) để đạt được mục đích huy động vốn, thu hút các nhà đầu tư và nâng cao giá trị thị trường của cổ phiếu. (2) Động cơ hợp đồng: - Điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh vi phạm hợp đồng vay: Nếu doanh nghiệp vi phạm hợp đồng đi vay, có thể các chủ nợ sẽ tăng lãi suất các khoản nợ hoặc đề nghị DN thanh toán nợ ngay lập tức.

Sở dĩ có điều này, là vì doanh nghiệp trả lãi vay bằng lợi nhuận kiếm được. Khi lợi nhuận không tốt kéo theo khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp cũng giảm theo. Điều này đe dọa đến rủi ro trong thu hồi vốn của các chủ nợ. Và hệ quả là để giảm thiếu rắc rối liên quan đến hợp đồng đi vay, các nhà quản trị có động cơ ĐCLN tăng lên.

Mặt khác, Một DN có lợi nhuận tốt cũng là điều kiện giúp họ đi vay dễ dàng hơn. - Hợp đồng thu lao của các nhà quản lý: Trên thực tế, các doanh nghiệp niêm yết có chế độ lương thưởng đối với nhà quản lý thường sẽ là tỷ lệ phần trăm như thỏa thuận xlợi nhuận kế toán (Phạm Thị Bích Vân, 2013). Bởi vậy lợi nhuận kế toán gắn liền trực tiếp đến tiền lương, thưởng của nhà quản lý, nên trong trường hợp này các nhà quản trị có động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán. Mặt khác, hợp đồng thù lao còn được thỏa thuận giữa nhà quản lý và doanh nghiệp theo điều khoản như sau: doanh nghiệp sẽ đặt ra một mức lợi nhuận nào đó và nhà quản lý sẽ được thưởng nếu đạt được lợi nhuận như mong muốn của doanh nghiệp hoặc cũng không 15 được thưởng thêm nếu lợi nhuận vượt quá mục tiêu đặt ra.

Trong trường hợp này, nhà quản lý sẽ có động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận tối đa đến mức đặt ra nếu lợi nhuận là thấp hơn. Nếu lợi nhuận vượt qua mục tiêu, lúc này nhà quản trị lại có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận để chuyển sang kỳ kế tiếp. Điều này được xác nhận ở nghiên cứu của Healy (1985). (3) Động cơ đáp ứng các quy định từ phía nhà nước hoặc với áp lực để đưa ra các chính sách có lợi: những chính sách, quy định của Nhà nước như: thay đổi thuế suất thuế TNDN, chính sách ưu đãi cho một số doanh nghiệp đang gặp khó khăn hay chính sách nới lỏng các quy định về thuế.

là một trong những động cơ để nhà quản lí quản trị lợi nhuận. Có nhiều động cơ để các nhà quản lý quản trị lợi nhuận theo nhiều cách, song các nghiên cứu trước đây đã phân loại thực tiễn quản trị lợi nhuận thành hai loại lớn, đó là quản trị lợi nhuận dồn tích (AEM) và quản trị lợi nhuận thực tế (REM) (ví dụ: Ewert và Wagenhofer, 2005; Gunny, 2010): 1. Thao túng lợi nhuận dồn tích và mô hình đo lường Quản trị lợi nhuận dồn tích AEM là cách thức nhà quản lý sử dụng các chính sách kế toán được cho phép bởi các nguyên tắc kế toán được thừa nhận (General Accounting Accepted Principles – GAAP) để tác động đến lợi nhuận. Ví dụ, lựa chọn chính sách kế toán để ghi nhận giá trị hàng tồn kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) hoặc bình quân gia quyền.

Quản trị lợi nhuận dồn tích có sự đảo ngược dồn tích trong giai đoạn sau khi thao tác. Lợi nhuận tăng vào thời điểm này thì lợi nhuận kỳ sau sẽ giảm xuống. Ngược lại, lợi nhuận hiện tại giảm theo phương pháp dồn tích sẽ làm tăng lợi nhuận trong kỳ tiếp theo. Việc quản trị lợi nhuận theo phương pháp dồn tích không ảnh hưởng đến dòng tiền của công ty.

Khoản lợi nhuận tích lũy có thể được chia thành hai thành phần, đó là lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh và lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh. Các khoản dồn tích không thể điều chỉnh là các khoản dồn tích được xác định bởi các điều kiện kinh tế bình thường của công ty (Xiong, 2006). Các khoản tích lũy điều chỉnh là các khoản tích lũy không được quy định trong hợp đồng và là chính sách lựa chọn của người quản lý. Do đó, các khoản dồn tích tùy ý được cho là kết quả của chủ nghĩa cơ hội của người quản lý.

16 Để đo lường và hiểu rõ hơn về AEM, dựa vào mối quan hệ giữa báo cáo LCTT và báo cáo KQHĐKD.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Ảnh Hưởng Của Giao Dịch Với Các Bên Liên Quan Đến Hành Vi Thao Túng Lợi Nhuận Tại Việt Nam" khám phá những tác động của các giao dịch với các bên liên quan đến hành vi thao túng lợi nhuận trong bối cảnh kinh tế Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các bên liên quan có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về các chiến lược quản lý rủi ro và cách thức cải thiện sự tuân thủ quy định trong lĩnh vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu The antecedent and outcome of work family spillover empirical evidence from vietnam, nơi cung cấp cái nhìn về tác động của công việc tại nhà đến sự lan tỏa giữa công việc và gia đình, một khía cạnh quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về môi trường làm việc hiện đại tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi kinh doanh và quản lý trong nước.