Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất lúa gạo giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Quảng Trị, với diện tích canh tác hàng năm duy trì trên 50.000 ha và sản lượng năm 2023 đạt kỷ lục 291.315,7 tấn. Tuy nhiên, hoạt động canh tác tại địa phương chịu áp lực nặng nề từ điều kiện thời tiết khắc nghiệt, chế độ mưa bão lũ lụt phân bố không đều và ảnh hưởng của hiện tượng gió Tây Nam khô nóng kéo dài trung bình 45 ngày mỗi năm. Toàn tỉnh hiện có mạng lưới thủy lợi gồm gần 500 công trình các loại, sở hữu tổng dung tích thiết kế đạt xấp xỉ 423 triệu m³ nước, cung cấp nguồn tưới trực tiếp cho trên 32.000 ha đất canh tác mỗi năm và bảo đảm tỷ lệ cấp nước chủ động đạt trên 88% diện tích lúa hai vụ. Mặc dù sở hữu quy mô công trình tương đối lớn, hạ tầng thủy nông của tỉnh đối mặt với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng do phần lớn công trình đã vận hành trên 30 đến 40 năm. Điển hình, tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương mới chỉ đạt 50,4% tương ứng 1.070,6 km trên tổng số 2.125,8 km kênh dẫn, để lại hơn 1.055 km kênh đất gây thất thoát nước lớn.

Vấn đề đặt ra là nguồn vốn đầu tư công phân bổ chưa đồng đều giữa các tiểu vùng sinh thái, cùng với những bất cập trong mô hình tổ chức quản lý khai thác cấp cơ sở đã cản trở việc tối ưu hóa năng suất mùa vụ. Trước thực trạng đó, đề án thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Hoàng Nguyễn Cẩm Tú, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Hạnh Lợi tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế, tập trung phân tích định lượng ảnh hưởng của công tác đầu tư và quản lý công trình thủy lợi đến năng suất lúa tại địa phương. Nghiên cứu thực hiện đánh giá toàn diện chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2019–2023 và dữ liệu sơ cấp năm 2023, từ đó xác lập các giải pháp quản lý kinh tế nhằm nâng cao năng suất gieo trồng từ mức trung bình 58,0 tạ/ha hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng tổng hợp lý thuyết kinh tế đầu tư công và lý thuyết quản lý tài nguyên dùng chung trong nông nghiệp. Về mặt bản chất kinh tế, đầu tư công trình thủy lợi là hoạt động chi dùng các nguồn lực vốn, đất đai, lao động và kỹ thuật công nghệ nhằm gia tăng tài sản vật chất hạ tầng gồm hồ đập, trạm bơm, kênh dẫn nước, qua đó tạo ra năng lực tưới tiêu chủ động, nâng cao hệ số sử dụng đất và giảm thiểu rủi ro thiên tai. Đặc thù của đầu tư thủy lợi đòi hỏi chu kỳ thực hiện dài từ 3 đến 4 năm, quy mô vốn lớn và tiến độ thi công dồn theo mùa khô trước khi bão lũ xuất hiện.

Về khía cạnh quản trị, nghiên cứu dựa trên các nguyên tắc của Luật Thủy lợi năm 2017 và Thông tư phân cấp quản lý số 05/2018/TT-BNNPTNT, Thông tư số 03/2022/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Quản lý thủy lợi được tiếp cận như một hệ thống vận hành đa mục tiêu, kết hợp giữa quản lý nhà nước, doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi và các tổ chức thủy nông cơ sở theo ranh giới lưu vực. Ba khái niệm nền tảng được định lượng hóa trong mô hình nghiên cứu gồm: chất lượng công trình thủy lợi, năng suất quản lý điều tiết nước của tổ chức cơ sở, và mức độ tiếp cận dịch vụ tưới tiêu tại mặt ruộng. Khung lý thuyết giả định rằng hiệu quả đầu tư hạ tầng và năng lực quản lý nước tương tác trực tiếp với các yếu tố đầu vào kỹ thuật để xác định hàm năng suất lúa thực thu của nông hộ.

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu, đề án sử dụng cách tiếp cận kết hợp giữa phân tích định tính và mô hình hóa định lượng. Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 135 nông hộ canh tác lúa, được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên tại 8 xã thuộc 3 địa bàn đại diện cho các vùng sinh thái đặc trưng: huyện đồng bằng Hải Lăng, thị xã Quảng Trị và huyện miền núi Hướng Hóa. Phương pháp chọn mẫu phân tầng được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc phản ánh sự khác biệt về địa hình, vị trí thửa ruộng tại đầu kênh, giữa kênh hay cuối kênh, cũng như tính đa dạng của các hình thức sở hữu hạ tầng từ nhà nước đến người dân tự quản.

Số liệu thứ cấp được tổng hợp có hệ thống từ Cục Thống kê tỉnh Quảng Trị, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh và Chi cục Thủy lợi trong giai đoạn 5 năm từ năm 2019 đến năm 2023. Số liệu sơ cấp được xử lý bằng kỹ thuật thống kê mô tả, kiểm định so sánh giá trị trung bình và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến bằng phương pháp bình phương bé nhất. Mô hình hồi quy tách biệt thành hai hàm sản xuất độc lập cho vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu nhằm kiểm soát tính dị biệt của khí hậu. Biến phụ thuộc là năng suất lúa thực tế, trong khi các biến độc lập bao gồm nhóm chi phí vật tư đầu vào kết hợp cùng các biến đo lường công suất công trình, tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương và chỉ số đánh giá năng lực điều hành của tổ chức thủy nông.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thứ cấp giai đoạn 2019–2023 phản ánh bức tranh phân bổ dòng vốn đầu tư thủy lợi có sự phân hóa mạnh mẽ giữa các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh. Huyện Gio Linh dẫn đầu về tổng vốn đầu tư công trình thủy lợi với 251.011 triệu đồng, tiếp theo là huyện Vĩnh Linh đạt 203.181 triệu đồng và huyện Hải Lăng đạt 185.389 triệu đồng. Trong khi đó, các huyện miền núi có mức tích lũy vốn thấp hơn đáng kể, như Hướng Hóa đạt 43.785 triệu đồng và Đakrông chỉ đạt 25.333 triệu đồng. Cơ cấu đầu tư cho thấy sự tập trung cao độ vào công tác xây mới tại thành phố Đông Hà với mức vốn trên 160.000 triệu đồng để phục vụ tiêu thoát nước đô thị, trong khi Hải Lăng dẫn đầu toàn tỉnh về nguồn vốn duy tu bảo dưỡng thường xuyên đạt khoảng 60.000 triệu đồng và chi phí khắc phục hậu quả thiên tai do bão lũ.

Dữ liệu khảo sát thực tế từ 135 hộ dân khẳng định sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê về năng suất mùa vụ giữa các vùng có mức độ hoàn thiện hạ tầng khác nhau:

  • Năng suất lúa bình quân toàn tỉnh năm 2023 đạt 58,0 tạ/ha, tăng 24,2% so với mức 46,7 tạ/ha của năm 2022 khi thời tiết gặp bất lợi cực đoan. Tại vựa lúa Hải Lăng, nơi có hệ thống thủy lợi được đầu tư đồng bộ và duy tu kịp thời, năng suất vụ Đông Xuân năm 2023 chạm mốc 67,2 tạ/ha và vụ Hè Thu đạt 61,1 tạ/ha, cao hơn từ 15% đến 25% so với các địa bàn vùng cao như Hướng Hóa hay Đakrông.
  • Hệ số hồi quy tuyến tính xác nhận việc tiếp cận hệ thống kênh mương kiên cố hóa giúp giảm hao hụt nguồn nước, làm tăng năng suất lúa trung bình thêm từ 4,5% đến 8,2% so với những diện tích phụ thuộc vào kênh dẫn bằng đất.
  • Vị trí mặt ruộng trên tuyến kênh chi phối trực tiếp đến kết quả thu hoạch: các thửa ruộng nằm ở đầu tuyến kênh chính có sản lượng cao hơn từ 5% đến 7% so với các thửa ruộng nằm ở cuối kênh do hiện tượng thiếu nước cục bộ vào thời điểm trổ bông vụ Hè Thu.
  • Năng lực quản lý của tổ chức thủy nông cơ sở đóng góp tích cực vào việc ổn định sản xuất. Trong tổng số 246 hợp tác xã và 105 tổ hợp tác dùng nước trên toàn tỉnh, những đơn vị thành lập được bộ phận chuyên trách thủy nông điều tiết nước theo lịch trình giúp hạn chế tranh chấp nguồn nước, giúp năng suất hộ thành viên cao hơn khoảng 3,2 tạ/ha so với những tổ hợp tác hoạt động kiêm nhiệm, lỏng lẻo.

Thảo luận kết quả

Kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng phản ánh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa việc hoàn thiện hạ tầng kênh mương nội đồng với chỉ tiêu năng suất mùa vụ. Khi đối chiếu với các phát hiện trong các công trình nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long, xu hướng gia tăng năng suất từ việc kiên cố hóa kênh mương tại Quảng Trị hoàn toàn tương đồng, khẳng định giá trị của việc giảm thất thoát nước ngấm qua nền đất pha cát đặc trưng của miền Trung. Tuy vậy, điểm khác biệt tại Quảng Trị nằm ở độ phân tán rủi ro thiên tai rất lớn giữa hai vụ canh tác. Vụ Đông Xuân tận dụng được nguồn nước dồi dào từ các hồ chứa lớn như La Ngà, Ái Tử, Trúc Kinh nên năng suất đạt bình quân 61,4 tạ/ha trên toàn tỉnh; ngược lại vụ Hè Thu chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió Tây Nam khô nóng và dòng chảy cạn kiệt khiến năng suất sụt giảm xuống 57,2 tạ/ha.

Dữ liệu sản xuất có thể được biểu diễn một cách trực quan qua biểu đồ phân tán giữa biến chi phí nạo vét duy tu kênh mương và biến năng suất thực thu của từng huyện, thể hiện một đường xu thế đi lên rõ rệt. Những khu vực chịu thiệt hại nặng nề sau thiên tai nếu được giải ngân kịp thời nguồn vốn hỗ trợ sửa chữa công trình đầu mối thì chu kỳ phục hồi năng suất diễn ra nhanh chóng ngay trong vụ mùa kế tiếp. Về mặt tổ chức, việc phân cấp quản lý theo Quyết định số 3147/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh đã tách bạch rõ trách nhiệm của Công ty TNHH MTV Quản lý, khai thác công trình thủy lợi tỉnh đối với 53 công trình lớn và trách nhiệm của cấp cơ sở đối với mạng lưới kênh mương phụ trách dưới 200 ha. Tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt nguồn kinh phí bảo trì thường xuyên tại các tổ hợp tác dùng nước đang là nút thắt lớn nhất kìm hãm hiệu quả vận hành của toàn hệ thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác đầu tư và quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi, thúc đẩy nâng cao năng suất lúa bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn đến năm 2030, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Ưu tiên bố trí khẩn cấp nguồn vốn ngân sách khoảng 34,5 tỉ đồng để sửa chữa dứt điểm các hạng mục công trình đầu mối xung yếu trước mùa mưa bão năm 2025. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh cần tập trung thay thế hệ thống phao cao su tràn xả lũ đập dâng Nam Thạch Hãn và gia cố các cửa xả tràn tại hồ chứa Trúc Kinh, Ái Tử nhằm bảo đảm an toàn tích nước phục vụ tưới tiêu cho hơn 32.000 ha đất canh tác.
  2. Xây dựng lộ trình kiên cố hóa hệ thống kênh mương nội đồng nhằm nâng tỷ lệ kiên cố hóa từ mức 50,4% hiện nay lên đạt tối thiểu 70% vào năm 2030. Ủy ban nhân dân các huyện Hải Lăng, Triệu Phong và Gio Linh cần chủ trì phối hợp cùng các hợp tác xã lồng ghép nguồn vốn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới để nâng cấp 1.055 km kênh đất còn lại, ưu tiên các tuyến kênh cấp hai và cấp ba nhằm giảm thiểu tổn thất nước tại các vùng cuối kênh.
  3. Kiện toàn mô hình tổ chức và nâng cao năng lực tài chính cho 105 tổ hợp tác dùng nước và 246 hợp tác xã nông nghiệp. Ủy ban nhân dân cấp huyện cần hướng dẫn chuyển đổi các tổ hợp tác hoạt động đơn lẻ sang mô hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoạt động theo Luật Hợp tác xã, ban hành quy chế phân phối nước công khai, đồng thời điều chỉnh mức trích lập kinh phí dịch vụ thủy lợi nội đồng để bảo đảm ít nhất 20% nguồn thu dành riêng cho việc nạo vét, duy tu định kỳ hàng năm.
  4. Đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước và hệ thống quan trắc số hóa. Chi cục Thủy lợi tỉnh cần chủ trì triển khai lắp đặt hệ thống cảm biến đo mực nước tự động tại các cống ngăn mặn trọng điểm như sông Hiếu, sông Bến Hải, phấn đấu đến năm 2028 mở rộng diện tích áp dụng quy trình tưới ướt khô xen kẽ trên 15.000 ha lúa vụ Hè Thu nhằm thích ứng với điều kiện nắng nóng cực đoan.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giá trị và hàm ý chính sách sâu sắc, phù hợp cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan quản lý chuyên ngành: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy lợi và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các cấp có thể khai thác các số liệu đánh giá để lập kế hoạch phân bổ vốn đầu tư trung hạn, xây dựng tiêu chí ưu tiên nâng cấp công trình hồ đập và hoàn thiện quy chế phân cấp vận hành hạ tầng thủy nông.
  • Ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp và tổ chức dùng nước cơ sở: Cán bộ quản lý tại 246 hợp tác xã và các tổ thủy nông tham khảo đề án để chuẩn hóa quy trình điều tiết nước mặt ruộng, khắc phục tình trạng thiếu nước cục bộ tại các vị trí cuối kênh và áp dụng phương thức thu chi phí dịch vụ thủy lợi minh bạch.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học: Các chuyên gia kinh tế nông nghiệp và sinh viên ngành Quản lý kinh tế có thể sử dụng đề tài như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp thiết kế bảng hỏi phân tầng, cách thức xử lý dữ liệu vi mô 135 hộ và ứng dụng mô hình hồi quy đa biến trong đánh giá hiệu quả kinh tế của hạ tầng nông thôn.
  • Các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ phát triển: Các tổ chức đang triển khai các dự án viện trợ về thích ứng biến đổi khí hậu và an ninh lương thực tại khu vực miền Trung tìm thấy trong tài liệu những bằng chứng thực tiễn về tính dễ tổn thương của hạ tầng thủy lợi phục vụ cho việc phê duyệt các gói tài trợ kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc đầu tư vào công trình thủy lợi lại có ý nghĩa quyết định đối với năng suất lúa tại Quảng Trị?
Quảng Trị có địa hình dốc, hẹp và khí hậu khắc nghiệt với lượng mưa tập trung 70% vào các tháng cuối năm, trong khi mùa hè khô hạn kéo dài kèm theo gió phơn Tây Nam gay gắt. Hệ thống gần 500 công trình thủy lợi điều tiết gần 423 triệu m³ nước giúp bảo đảm tưới tiêu chủ động cho 88% diện tích lúa hai vụ, ngăn chặn nguy cơ nhiễm mặn và duy trì năng suất lúa ổn định ở mức 58,0 tạ/ha.

Tình trạng kỹ thuật của hệ thống thủy lợi tỉnh Quảng Trị hiện nay đối mặt với thách thức lớn nhất nào?
Khó khăn lớn nhất là sự xuống cấp của các công trình đầu mối được xây dựng từ 30 đến 40 năm trước và tỷ lệ kênh mương chưa kiên cố hóa còn cao. Hiện toàn tỉnh vẫn còn hơn 1.055 km kênh mương bằng đất trong tổng số 2.125,8 km, chiếm tỷ lệ gần 50%, dẫn đến thất thoát lượng nước tưới qua ngấm và rò rỉ, đặc biệt nghiêm trọng trong vụ Hè Thu.

Vị trí của thửa ruộng trên hệ thống kênh tưới ảnh hưởng như thế nào đến năng suất thu hoạch?
Kết quả khảo sát 135 hộ cho thấy các thửa ruộng nằm ở vị trí đầu kênh thường đạt năng suất cao hơn từ 5% đến 7% so với các thửa ruộng ở cuối kênh. Nguyên nhân là do các hộ cuối kênh thường xuyên đối mặt với tình trạng lưu lượng nước yếu, áp lực cấp nước giảm sút vào các giai đoạn sinh trưởng nhạy cảm của cây lúa như đẻ nhánh và trổ bông.

Mô hình quản lý thủy lợi nào tại cấp cơ sở mang lại hiệu quả khai thác tốt nhất?
Mô hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp có thành lập tổ thủy nông chuyên trách hoạt động theo Luật Hợp tác xã mang lại hiệu quả cao nhất. Việc phân định rõ chức năng điều tiết nước, có lịch phân phối công khai và thu phí dịch vụ nội đồng đầy đủ giúp duy tu kênh mương thường xuyên, mang lại mức năng suất lúa cao hơn khoảng 3,2 tạ/ha so với các tổ chức thiếu tính chuyên trách.

Nhu cầu vốn cấp thiết nhất trong ngắn hạn để duy trì an toàn hệ thống thủy lợi Quảng Trị là bao nhiêu?
Trong ngắn hạn, tỉnh Quảng Trị cần nguồn kinh phí tối thiểu khoảng 34,5 tỉ đồng để ưu tiên gia cố, sửa chữa các hạng mục hư hỏng nghiêm trọng trước mùa bão lũ. Các công trình trọng yếu bao gồm việc thay thế phao cao su xả tràn tại đập Nam Thạch Hãn và cải tạo van xả lũ hồ chứa Trúc Kinh, Ái Tử nhằm bảo đảm an toàn hồ đập.

Kết luận

  • Công tác đầu tư và quản lý công trình thủy lợi là nhân tố tiên quyết quyết định năng lực sản xuất lúa tại Quảng Trị, bảo đảm an ninh lương thực với sản lượng trên 291.300 tấn mỗi năm.
  • Năng suất gieo trồng có mối tương quan thuận mạnh mẽ với tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương và mức độ đầu tư duy tu bảo dưỡng hạ tầng thủy lợi thường xuyên tại từng địa phương.
  • Mô hình quản lý thủy nông cơ sở chuyên trách đóng vai trò then chốt trong việc phân phối nguồn nước công bằng, giảm thiểu chênh lệch năng suất giữa các thửa ruộng đầu kênh và cuối kênh.
  • Tỉnh Quảng Trị cần nhanh chóng huy động 34,5 tỉ đồng xử lý các điểm xung yếu và nâng tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương đạt 70% vào năm 2030 nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu.
  • Nghiên cứu của tác giả Hoàng Nguyễn Cẩm Tú tạo lập cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn vững chắc, đóng góp giải pháp giá trị cho chiến lược tái cơ cấu ngành nông nghiệp của địa phương.

Quý độc giả, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình quản trị thủy lợi và hàm sản xuất nông nghiệp có thể tiếp cận trọn vẹn luận văn để khai thác chi tiết bộ dữ liệu khảo sát và các khuyến nghị chính sách chuyên sâu.