Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình chuyển khu vực nông thôn từ nông nghiệp cổ truyền thành khu vực có nền kinh tế thị trường phát triển với hệ thống phân công lao động đạt trình độ cao, dựa trên nền tảng kỹ thuật- công nghệ hiện đại và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu trong khuôn khổ quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa toàn bộ nền kinh tế. Đây cũng là quá trình đô thị hóa, cải biến xã hội nông thôn lên trình độ văn minh cao hơn, bảo đảm cho mọi người dân có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao. Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế- xã hội liên quan đến các dịch chuyển về mặt kinh tế- xã hội, văn hóa, không gian, môi trường sâu sắc gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, chuyển đổi nghề nghiệp, hình thành các nghề nghiệp mới; thúc đẩy sự dịch cư vào trung tâm các đô thị và thúc đẩy phát triển kinh tế làm thay đổi đời sồng xã hội và văn hóa, nâng cao mức sống người dân và làm thay đổi cả lối sống và hình thức giao tiếp xã hội… Nông nghiệp hóa đô thị là một ngành sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm, chất đốt (thể hiện tính cơ giới cao) dựa trên các vùng đất và mặt nước nằm xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô. Theo cách hiểu truyền thống thì “nông nghiệp đô thị” là nông nghiệp trong các vùng cận thành phố hoặc đang trong quá trình đô thị hóa.
Người ta còn hay gọi với tên gọi khác là nông nghiệp tiền ven đô thị hay nông nghiệp ven đô [9].2 Nghiên cứu ngoài nước 1.1 Nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa phát triển công nghiệp và đô thị đến phát triển nông nghiệp và nông thôn Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan điểm về vấn đề này. Trong đó, có thể kể tới 3 quan điểm tiếp cận là: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm về tích lũy nông nghiệp trong quá trình chuẩn bị cho công nghiệp hóa. Theo quan điểm này, B.Mellor cho rằng phát triển một nền nông nghiệp vững mạnh và năng động là tiền đề thúc đẩy công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế. Quan điểm này thực chất nhấn mạnh vào việc khai thác càng nhiều càng càng tốt các nguồn lực của nông nghiệp và nông thôn để phục vụ cho công nghiệp hóa- đô thị hóa, coi nông nghiệp là nguồn tích lũy để phát triển công nghiệp.
Lý thuyết phát triển công nghiệp hóa tập trung mà đại diện là Geoffrey, Hainsworth, Richard Bergeron… coi việc phát triển kinh tế trên cơ sở thúc đẩy nhanh phát triển công nghiệp và dịch vụ, bỏ qua phát triển nông nghiệp. Lý thuyết này hầu như không chú ý tới các vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi nông thôn là địa bàn cấp đất cho đô thị hóa và là thị trường cung cấp lao động cho công nghiệp. Lý thuyết phát triển cân bằng mà đại diện là E.Colander, Ray Cohn, Mark Morlork, cho rằng: trong kinh tế, khái niệm trung tâm của sự khôn ngoan là tính bền vững. Lý thuyết này coi trọng đầu tư cho nông nghiệp trên cơ sở tích lũy từ nông nghiệp và thương mại quốc tế, đề cao vai trò chủ động của con người là trọng tâm phát triển nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả và lợi nhuận trong sản xuất.
Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về phát triển đô thị và sản xuất nông nghiệp cũng đã chỉ ra rằng: việc mở rộng đô thị trước hết lấy vào đất nông nghiệp và các khu vực cư trú của các sinh vật khác như vùng đật ngập nước, rừng… để mở mang đường xá, nhà cửa, các khu công nghiệp, thương mại du lịch, phát triển cơ sở hạ tầng và tập trung dân cư nên các hệ sinh thái trong đô thị có thể bị phá hoại hoặc được quản lý chặt chẽ. Nhiều sức ép về môi trường cũng làm thay đổi các yếu tố tự nhiên của các hệ sinh thái đô thị. Thảm thực vật bị ô nhiễm ở mức độ cao, các sông ngòi tự nhiên bị bồi lắng và lấp dần bởi rác và các chất ô nhiễm khác, bề mặt che phủ bị bê tông hóa làm ngăn cản nguồn nước mưa bổ sung cho nước dưới đất…[1]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến số lượng đất nông nghiệp Kinh nghiệm của các nước châu Á vốn lấy cây lúa nước là cây lương thực chính cho thấy qua mấy chục năm tiến hành công nghiệp hóa, đô thị hóa thì tỷ lệ mất đất canh tác từ 0,2- 2%/năm.
Tỷ lệ mất đất canh tác trong thập niên 1980- 1990 của Trung Quốc là 0,5%/năm, Hàn Quốc 1,4%/năm, Đài Loan 2%/năm, Nhật Bản 1,6%/năm. Diện tích đất canh tác bị mất chủ yếu là đất lúa đã đe dọa an ninh lương thực. Để tăng sản lượng, nhiều nước đã tăng năng suất bằng cách sử dụng phân bón hóa học với liều lượng cao và kết quả là làm cho môi trường đất bị ô nhiễm. Trung Quốc: trong những năm 1990, thời kỳ đầu của quá trình cải cách, mở cửa, tốc độ đô thị hóa của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng.
Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, ước tính diện tích đất canh tác bị mất hàng năm trên 1 triệu ha, trong khi dân số Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng. Để giải quyết vấn đề này chính phủ Trung Quốc đã xây dựng các mô hình xí nghiệp hương trấn (tên gọi chung của các xí nghiệp hoạt động ở nông thôn) hoạt động như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm chuyển giao các thành tựu của công nghệ sinh học (lai tạo giống lúa, cây trồng và vật nuôi), thủy lợi hóa, cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp tại các vùng nông nghiệp ven đô để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao phục vụ cho cư dân đô thị và xuất khẩu. Nhật Bản: quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Nhật Bản diễn ra trong thời gian trước khi trở thành một cường quốc về công nghiệp. Tài nguyên đất đai của Nhật Bản hạn hẹp với diện tích đất canh tác nông nghiệp chưa đầy 14% diện tích lãnh thổ và chỉ có khoảng 0,8 ha đất nông nghiệp trên một gia đình.
Vào giai đoạn 1979- 1999, diện tích đất nông nghiệp giảm bình quân 1%/năm (tương đương với 48,7 nghìn ha/năm), diện tích này chuyển sang mục đích phát triển đô thị và hình thành các khu công nghiệp. Theo số liệu thống kê, diện tích đất nông nghiệp giảm từ 5,4 triệu ha xuống còn 4,9 triệu ha, và tỷ trọng nông nghiệp của Nhật Bản chiếm chưa đầy 1% tổng giá trị sản xuất hàng năm (số liệu năm 2007). 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trình trạng thiếu lao động trầm trọng vào cuối thập niên 50, xu hướng này kéo dài cho tới tận ngày nay là một thách thức lớn đối với quá trình phát triển kinh tế. Sau khi bắt đầu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở những năm 50 của thế kỷ 20, nhu cầu lớn về lao động tại các trung tâm công nghiệp đô thị khiến cho càng nhiều người rời bỏ nông thôn.
Một phần lớn trong lực lượng làm nghề nông khi đó là những người trên 45 tuổi. Bên cạnh đó, rất nhiều người chỉ làm nghề này theo thời vụ và hơn một nửa lực lượng lao động là phụ nữ. Nếu năm 1960, 26,8% lực lượng lao động là nông dân thì đến năm 1995 chỉ còn 5,1%, và đến năm 2005 số cư dân trong khu vực nông thôn chỉ còn khoảng 21% so với tổng dân số toàn quốc. Để đảm bảo an ninh lương thực, tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn và những người bị mất đất canh tác, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng một đường lối phát triển trong nông nghiệp để củng có và xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững hướng tới xuất khẩu các mặt hàng đặc biệt với giá trị kinh tế cao ra nước ngoài.
Việc phát triển sản xuất tập trung vào các mặt hàng nông sản thực phẩm có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít công lao động, không chiếm nhiều diện tích, đưa các quy trình tiến bộ về công nghệ sinh học vào sản xuất (sản xuất trong nhà kính, nhà lưới, nuôi trồng thủy canh…). Hình thành các trang trại canh tác lúa quy mô lớn, áp dụng biện pháp canh tác tiên tiến nhằm làm giảm giá thành và tăng năng suất cây trồng, các mạng lưới thu mua sản phẩm tiếp cận trực tiếp với người sản xuất. Hàn Quốc: cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội của Hà Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo châu Phi và châu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp hạng 10 trên thế giới. Hàn Quốc cũng là một nước phát triển có sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, với tốc độ tăng trương GDP bình quân là 5% mỗi năm- một phân tích gần đây nhất bởi Goldman Sachs năm 2007 đã chỉ ra GDP bình quân đầu người của đất nước này nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỷ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong những năm 1970 đến 1980, kinh tế Hàn Quốc tập trung vào ngành công nghiệp nặng và sản xuất ô tô. Với sự hỗ trợ của chính phủ, các cơ sở công nghiệp hình thành nhanh chóng như POSCO, Hyundai Heavy Industries và Samsung Heavy Industries, Hyundai Kia Automotive Group, đưa Hàn Quốc đứng vào các nước có nền công nghiệp hóa, đô thị hóa phát triển trên thế giới. Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của Hàn Quốc là 2,1 triệu ha (chiếm 17% diện tích bán đảo Triều Tiên), quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm diện tích đất nông nghiệp của Hàn Quốc mất hàng năm khoảng 1,4%/năm (28,8 nghìn ha/năm) cho phát triển công nghiệp, du lịch và các hoạt động ngoài nông nghiệp. Việc hình thành các khu công nghiệp, đô thị đã lấy đi những vùng đất mầu mỡ của Hàn Quốc và gây xói mòn đất đai, ô nhiễm do rác thải sinh hoạt và sản xuất, sức khỏe của con người bị đe dọa.
Để sản xuất nông nghiệp trong điều kiện đất canh tác vùng ven đô ít, giá công lao động cao, từ đầu những năm 1990 nông nghiệp Hàn Quốc chuyển sang nông nghiệp công nghệ cao nhờ ứng dụng thành tựu của công nghệ sinh học, hóa học và điện tử vào nông nghiệp.