Chương 1: Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam và Hàn quốc Chương 2: Ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến việc tiếp thu, sử dụng ngôn ngữ nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến việc tiếp thu, sử dụng ngôn ngữ nước ngoài ở Hàn Quốc hiện nay Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 11 CHƢƠNG 1: CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ Ở VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 1. Khái niệm chính sách ngôn ngữ Trong cách hiểu chung nhất, chính sách ngôn ngữ (viết tắt CSNN) là hình thức tác động có định hướng của xã hội lên ngôn ngữ. Nhưng khi luận giải về nội dung và tính chất của khái niệm này, các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau. Isaev và một số người khác nói CSNN “là một bộ phận hữu cơ trong chính sách dân tộc của một nhà nước, một giai cấp hay một đảng phái nào đó” và định nghĩa nó như là “bình diện ngôn ngữ trong chính sách (cương lĩnh) của đảng và nhà nước về vấn đề dân tộc”[43 tr19].Nikolskij cho rằng, nếu quan niệm về chính sách ngôn ngữ như vậy là phiến diện mà ở đây khái niệm CSNN phải được đặt vào cả trong các quốc gia đa dân tộc lẫn quốc gia đơn dân tộc, bởi vì “về mặt xã hội, CSNN là một bộ phận trong chính sách đối nội của giai cấp thống trị nhà nước trong một quốc gia nhất định” [44.
Theo chúng tôi dù xem CSNN là một bộ phận của chính sách dân tộc hay một bộ phận của chính sách đối nội của nhà nước, của giai cấp, đều chưa thoả đáng cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Chúng tôi tạm định nghĩa: CSNN là hệ thống các quan điểm chính trị của một nhà nước, một giai cấp, một đảng phái về các vấn đề ngôn ngữ và hệ thống các biện pháp do nhà nước, giai cấp, đảng phái đó tiến hành nhằm tác động lên sự hành chức và sự biến đổi của các ngôn ngữ và các hình thức tồn tại ngôn ngữ theo những mục đích chính trị nhất định. Như vậy có nghĩa là quan điểm chính trị trong nội dung khái niệm CSNN là một đặc trưng không thể thiếu được. Nội dung cơ bản của một chính sách là các quan điểm, các chủ trương chính trị của nó, thứ đến mới 12 là các biện pháp thực hiện.
Trong CSNN, cần ý thức rõ ràng về hai yếu tố, của các chủ trương và các biện pháp. Chính sách ngôn ngữ Việt Nam 1. Lược sử chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam Hàng thế kỉ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, tiếng Hán và chữ Hán đã được sử dụng như là ngôn ngữ chính thức ở Việt Nam. Trong thời kì Bắc thuộc, chế độ phong kiến Trung Quốc đã thi hành một chính sách nhất quán là đồng hoá Việt Nam về chính trị và văn hoá.
Tiếng Hán và chữ Hán trở thành một công cụ hữu hiệu trong hành chính và nhiều lĩnh vực khác. Thực tế vào thời Bắc thuộc, quan cai trị chỉ tổ chức dạy chữ Hán cho một số người Việt, đủ để làm công chức trong bộ máy cai trị của người Hán chứ chưa phải là dạy Nho giáo nhằm mục đích thi cử. Trong thời kì này, các chùa mới là các trung tâm văn hoá và nhân dân học chữ Hán ở các chùa chứ không phải ở các trường do người Trung Quốc dựng nên. Từ năm 938, Việt Nam giành được độc lập từ tay người Hán.
Do nhu cầu phải đua tài với Trung Quốc để củng cố độc lập bằng văn hoá, Việt Nam có nhu cầu tiếp thu văn hoá Hán. Việc học chữ Hán có quy mô chỉ bắt đầu từ thời độc lập. Khi đất nước giành được quyền độc lập, định hướng cơ bản về ngôn ngữ văn tự là: tiếp tục dùng chữ Hán, coi đó là nền văn tự chính thức của nhà nước. Hệ thống chữ viết sớm nhất của Việt Nam, được gọi là Chữ Nôm, được hiểu như là một biểu tượng nhận dạng của quốc gia, nó được đưa vào sử dụng vào cuối thế kỷ 13.
Từ khi xuất hiện chữ Quốc ngữ, thế tương quan giữa các ngôn ngữ, văn tự trên diễn đàn văn hoá Việt Nam khác với các giai đoạn trước: Có hai ngôn ngữ là tiếng Việt và văn ngôn Hán, với ba loại chữ viết là chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. 13 Dưới thời cai trị của thực dân Pháp (1861–1945), trên diễn đàn văn hoá Việt Nam, có ba ngôn ngữ là tiếng Pháp, tiếng Việt, văn ngôn Hán và bốn văn tự là Pháp, Quốc ngữ, Nôm và Hán. Sự tranh chấp giữa ba ngôn ngữ diễn ra theo chiều hướng tiếng Pháp vươn lên chiếm vị thế số một, vai trò của văn ngôn Hán ngày càng giảm, vị thế của tiếng Việt càng ngày càng được đề cao. Đây cũng là thời kì thay thế dần chữ Hán và chữ Nôm bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ.
Như vậy, ngoài tiếng Pháp, tiếng Việt và tiếng Hán cũng đã được sử dụng trong giáo dục, đặc biệt là ở cấp độ căn bản. Sau 1945, chính sách ngôn ngữ chủ yếu là chính sách ngôn ngữ của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng như Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, cũng nói đến chính sách ngôn ngữ của những chính quyền thân Pháp, thân Mĩ ở Sài Gòn trước đây. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, nên ở Việt Nam ngoài tiếng Việt ra còn có ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, vì thế, sau cách mạng tháng tám năm 1945 khi đề cập đến các chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam thường phải nói đến ba chính sách cụ thể là: chính sách đối với các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số; chính sách đối với tiếng Việt; chính sách đối với các ngoại ngữ.
Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài hiện nay Hiện nay, việc dạy và học ngoại ngữ được đổi mới toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chương trình được triển khai thực hiện ở tất cả các cấp học nhằm đào tạo lớp thanh niên Việt Nam sau khi tốt nghiệp trung cấ p, cao đẳ ng và đa ̣i ho ̣c có đ ủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, 14 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để đạt được mục tiêu đó chính sách đổi mới cụ thể như sau: Về chương trình thực hiện: - Triển khai chương trình giáo dục ngoại ngữ 10 năm, bắt đầu từ lớp 3. - Đào tạo tăng cường ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp.
- Đào tạo tăng cường ngoại ngữ đối với giáo dục đại học. Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương trình giáo dục thường xuyên với nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với các cấ p ho ̣c , trình độ đào tạo, góp phần tích cực vào công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức; thực hiện đa dạng hoá các hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu người học. Chương trình triển khai dạy và học ngoại ngữ được minh học bởi biểu đồ sau: Ghi chú: Các cấp học đào tạo ngoại ngữ Sơ đồ 1. Mô tả hệ thống giáo dục ngoại ngữ ở Việt Nam 15 Về nội dung Tiếng Anh là môn ngoại ngữ chính được quy định dạy và học trong các cơ sở giáo dục quốc dân ngoài ra cón có một số ngôn ngữ khác như Tiếng Pháp, Tiếng Nga và Tiếng Trung Quốc.
Bên cạnh đó tiếng Hàn, Tiếng Nhật, tiếng Tây Ban Nha. vẫn được khuyến khích đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của người lao động có nguyện vọng để xuất khẩu lao động. Tiêu chuẩn đánh giá: Xây dựng và ban hành khung trình độ năng lực ngoại ngữ thống nhất, chi tiết, gồm 6 bậc, tương thích với các bậc trình độ ngoại ngữ quốc tế về trình độ, năng lực, nghe, nói đọc, viết tương thích với các tiêu chí xác định 6 bậc do Hiệp hội các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban hành (viết tắt là KNLNN) trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 6 là bậc cao nhất. cụ thể các bậc được đánh giá cho các cấp học như sau: - Tốt nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1 theo KNLNN.
- Tốt nghiệp trung học cơ sở đạt trình độ bậc 2 theo KNLNN. - Tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trình độ bậc 3 theo KNLNN - Tốt nghiệp trường nghề tối thiểu đạt bậc 2 KNLNN. - Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp tối thiểu đạt bậc 3 KNLNN. - Tốt nghiệp đại học không chuyên ngữ, phải đạt trình độ tối thiểu là bậc 3 theo KNLNN.
Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ: tốt nghiệp cao đẳng đạt trình độ bậc 4 theo KNLNN. Tốt nghiệp đại học đạt bậc 5 và bắt buộc người học phải đồng thời được đào tạo 2 ngoại ngữ trong một khóa học, một ngoại ngữ chính (ngoại ngữ 1) và một ngoại ngữ phụ (ngoại ngữ 2). 16 Bậc Cấp độ đạt 1 Tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp trung học cơ sở 2 Tốt nghiệp trường nghề Tốt nghiệp trung học phổ thông 3 Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp Tốt nghiệp đại học không chuyên ngữ 4 Tốt nghiệp cao đẳng đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ 5 Tốt nghiệp đại học đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ 6 Tốt nghiệp thạc sĩ trở lên Chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng ngoại ngữ hiện nay không chỉ bó hẹp ở cấp độ trường học mà được khuyến khích nhân rộng ra toàn thể cộng đồng. Nhiều mô hình đào tạo đã được thành lập như các trung tâm ngoại ngữ, các câu lạc bộ ngoại ngữ.
và thu hút nhiều người quan tâm. Chính sách ngôn ngữ ở Hàn quốc 1. Lược sử chính sách ngôn ngữ Hàn Quốc Từ thời điểm sáng chế Bảng chữ cái (Hangul) đến năm 1945 Hàn ngữ âm các chữ cái được gọi là Hangul bây giờ là một ví dụ về ý thức quy hoạch ngôn ngữ có từ rất sớm trong lịch sử Hàn Quốc. Tất cả các quyết định liên quan đến quy hoạch ngôn ngữ của bất kỳ chính phủ Hàn Quốc nào cũng được kết nối với cuộc thảo luận về vai trò và phạm vi sử dụng Hangul này: nó là lý do tại sao các phân tích của bảng chữ cái này thực sự thú vị từ một điểm nhìn mang tính khoa học.