CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu về phân tích tài chính ngân hàng Ngân hàng là một trong các định chế tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Thị trường tài chính và nền kinh tế nói chung rất nhạy cảm với những bất ổn của hệ thống ngân hàng. Quản trị ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng nói riêng và của hệ thống tài chính quốc tế nói chung (Frank và Nicola 2011; Peter và Sylvia, 2008; Charles và Miguel, 2008; Trifonova và Zlateva, 2012).
Đánh giá tình hình tài chính ngân hàng rất quan trọng để có thể kiểm soát tình hình hoạt động nhằm phản ứng kịp thời với các rủi ro mà ngân hàng có thể tạo ra cho nền kinh tế. Xếp hạng tín nhiệm NHTM là một trong những cách đánh giá năng lực tài chính, đo lường độ rủi ro và triển vọng phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung và của từng ngân hàng nói riêng. Trong nghiên cứu phá sản của ngân hàng tại thị trường Indonesia, Judijanto và Khmaladze (2003) đã chọn lọc 12 chỉ tiêu từ 32 chỉ tiêu tài chính. Các nhóm chỉ tiêu tài chính bao gồm: hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lợi (lợi nhuận trước thuế/chi phí nhân viên, lợi nhuận/vốn chủ, lợi nhuận/tài sản sinh lợi, lợi nhuận biên); an toàn vốn (vốn chủ/tài sản sinh lợi, vốn chủ/cho vay); chênh lệch lãi suất (lãi cận biên, thu nhập từ cho vay/chi phí lãi vay); tín dụng (bình quân lợi nhuận và chi phí của nguồn vốn); tính thanh khoản (tài sản thanh khoản/tổng tiền gửi); tiền gửi công ty thành viên/cho vay).
Mẫu nghiên cứu bao gồm 213 ngân hàng giai đoạn 1994-1996 đã được tổng hợp và chia thành các nhóm tùy thuộc vào tình hình tài chính của ngân hàng. Trong báo cáo của Qũy Tiền tệ thế giới (IMF), đo lường sự ổn định của ngân hàng nhằm đánh giá những thay đổi làm tác động đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia như Mỹ và châu Âu là vấn đề trọng tâm. Trong báo cáo này, Charles và Miguel (2008) đã tiến hành xem xét thực nghiệm các tác động của ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài đến hệ thống tài chính ở các quốc gia ở Châu Mỹ Latinh, Châu Á và khu vực Đông Âu. Nghiên cứu đã đo lường sự ổn định của ngân hàng thông qua việc đánh giá: (i) rủi ro chung của hệ thống ngân hàng; (ii) rủi ro 3 riêng lẻ của từng ngân hàng; (iii) rủi ro của từng ngân hàng tác động đến hệ thống; (iv) ảnh hưởng rủi ro của các ngân hàng với nhau.
Nghiên cứu này đã ứng dụng xác suất thống kê trong tính toán mức chịu đựng thanh khoản của các ngân hàng trong từng đánh giá. Podviezko và Ginevieius (2010) đã thực hiện nghiên cứu về tác động của các chỉ tiêu tài chính trong đánh giá tình hình tài chính và đo lường độ ổn định của ngân hàng. Các tác giả đã sử dụng 10 chỉ số tài chính theo hệ thống phân tích CAMELS để đánh giá các ngân hàng tại Lithuania. CAMELS bao gồm các yếu tố: (i) chỉ số an toàn vốn (capital adequacy); (ii) chất lượng tài sản (asset quality); (iii) quản trị (management); (iv) khả năng sinh lợi (earnings); (v) tính thanh khoản (liquidity); (vi) độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro của thị trường (sensitivity to market risks).
Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra bộ tiêu chí để đánh giá độ ổn định của ngân hàng trong nước nhằm phục vụ cho khách hàng gửi tiền. Podviezko và Ginevieius (2011) nhận định cuộc khủng hoảng hiện tại đã làm gia tăng nguy cơ phá sản của ngân hàng. Kế thừa nghiên cứu các đánh giá ngân hàng từ trước đó, nhóm tác giả đã phát triển quy trình phân tích đánh giá NHTM. Mabwe và Robert (2010) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về hoạt động của ngân hàng trước và sau khủng hoảng, giai đoạn 2005-2009 tại Nam Phi.
Các NHTM lớn được đánh giá về lợi nhuận, thanh khoản và chất lượng tín dụng thông qua 7 yếu tố tài chính. Kết quả chỉ ra rằng có sự sụt giảm đáng kể về lợi nhuận, thanh khoản thấp, chất lượng tín dụng xấu khi khủng hoảng tín dụng xảy ra với tất cả các ngân hàng. Nghiên cứu cũng đã phát hiện ra rằng mức độ thanh khoản trong các NHTM Nam Phi đã đạt đến mức đáng báo động sau khủng hoảng. Gupta và Aggarwal (2012) đã dùng 12 chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá hoạt động của các ngân hàng tại Ấn Độ trước và sau khi gia nhập WTO, đặc biệt thời điểm Ấn Độ phải mở cửa ngành ngân hàng vào năm 2005.
Các chỉ số trong nghiên cứu tập trung vào hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà chưa đề cập đến các yếu tố khác như cơ cấu vốn, chất lượng tài sản, tính thanh khoản. Nghiên cứu cho thấy chính sách mở cửa lĩnh vực ngân hàng đã có những tác động tích cực. Trong ứng dụng thực tế, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn trên thế giới như Fitch, Moody’s và S&P’s có những bước xếp hạng tín nhiệm ngân hàng. Phương pháp sử dụng của các tổ chức quốc tế này được tóm tắt trong Bảng 1.1: Phương pháp sử dụng của các tổ chức quốc tế Fitch Moody’s Standard & Poor’s Đánh giá riêng của Phân tích dựa vào Tập trung đánh Tập trung đánh giá hoạt từng ngân hàng (Sức nguồn vốn không giá triển vọng về động điều chỉnh rủi ro mạnh tài chính nội trực tiếp, kinh phí tỷ lệ vốn dựa vào hiệu suất và khả năng tại) và rủi ro thanh các khoản lỗ dự tăng trưởng vốn từ các khoản kiến khoản lợi nhuận Đánh giá của tổ Kết quả xếp hạng Dựa trên cách Đánh giá triển vọng hệ chức xếp hạng (Có riêng của ngân hàng đánh giá xếp thống ngân hàng dựa tác động từ bên là mức sàn trong hạng riêng của trên rủi ro hệ thống ngoài) cách đánh giá này Moody’s về ngân hàng và các yếu tố hỗ trợ Đánh giá mở rộng Dựa trên: Dựa trên: Dựa trên: XHTN quốc gia -Chỉ số kinh tế vĩ Không có -Tỷ số kinh tế vĩ mô mô -Ngành và môi trường -Trung bình xếp kinh doanh hạng các ngân hàng Rủi ro hệ thống có Không Có, dựa vào: tác động đến xếp Không Đánh giá triển -Tỷ số vĩ mô tại ngành hạng ngân hàng? đánh giá triển vọng vọng hệ thống và môi trường kinh hệ thống ngân hàng ngân hàng được doanh dựa trên rủi ro hệ dựa trên rủi ro hệ thống ngân hàng thống ngân hàng Những thay đổi Phân tích rủi ro hệ Phát triển cách Phát triển phương pháp chính gần nhất thống (2005) đánh giá xếp đánh giá (2011) hạng riêng dựa Nhấn mạnh: trên đánh giá bổ -Rủi ro toàn hệ thống sung (2007) -Tạo sự liên kết từ lợi nhuận đến nguồn vốn Nguồn: Frank, và Nikola (2011) 5 Cụ thể hơn, các bước xếp hạng và các yếu tố tác động đến kết quả xếp hạng riêng lẻ và tổng thể của một ngân hàng của một tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm của Moody’s được thể hiện trong Hình 1.1: Phương pháp XHTN ngân hàng của Moody’s Nguồn: Moody’s (2007) Trong cách đánh giá tình hình tài chính cho từng ngân hàng, Lee và các tác giả (2012) đề xuất các chỉ tiêu tài chính trong phân tích định lượng.
Các chỉ tiêu được phân thành nhiều nhóm khác nhau dựa trên: Tỷ số về lãi suất (6 chỉ tiêu), chỉ tiêu lợi nhuận (14 chỉ tiêu), cấu trúc vốn (7 chỉ tiêu), chất lượng tín dụng (11 chỉ tiêu), tính thanh khoản (5 chỉ tiêu). Cấu trúc này dựa trên hệ thống phân tích CAMELS nhưng có sự điều chỉnh, bổ sung từ các thông tin trong phương pháp xếp hạng của Fitch trong đánh giá phân tích các định chế tài chính và đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Tóm lại, các nghiên cứu đánh giá về tính ổn định và tình hình tài chính của ngân hagnf đều đề xuất hai nhóm chỉ tiêu được xem xép khi xếp hạng là: (i) yếu tố vĩ mô (bao gồm các yếu tố như chính trị, luật pháp, lãi suất, lạm phát); (ii) yếu tố vi mô (các chỉ tiêu tài chính của từng ngân hàng) (Liliana, 2001; Mabwe và Robert, 2010). Trong đó, khi xem xét các chỉ tiêu tài chính thì CAMELS là hệ thống được sử dụng phổ biến (Dang Uyen, 2011; Kabir và Dey, 2012).
6 Ngân hàng Nhà nước (2012) đã thực hiện chủ trương phân loại NHTM và ngân hàng quốc doanh trong nước nhằm mục đích phân bổ hạn mức tăng trưởng tín dụng. Các tổ chức tín dụng được phân loại thành 4 nhóm: (i) Nhóm 1 tăng trưởng tối đa 17%, (ii) Nhóm 2 tăng trưởng tối đa 15%, (iii) Nhóm 3 tăng trưởng tối đa 8%; và (iv) Nhóm 4 không được tăng trưởng. Trong khi đó, các nghiên cứu về xây dựng xếp hạng tín nhiệm NHTM ở Việt Nam không phổ biến. Nhóm tác giả không thể tìm được bất kì một nghiên cứu chính thống nào về xếp hạng các ngân hàng ở Việt Nam, ngoại trừ nghiên cứu duy nhất được đề cập trong năm 2012.
Trong báo cáo thường niên chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2012, Nguyễn Hữu Lục và các tác giả (2012) đã công bố xếp hạng tín nhiệm của 32 NHTM trong nước lần đầu tiên. Tuy nhiên, các ngân hàng đã phản ứng mạnh mẽ với kết quả xếp hạng do kết quả chưa đánh giá đúng tình hình tài chính của ngân hàng và quan trọng hơn, các tiêu chí xếp hạng mang tính chủ quan và quá trình xếp hạng chưa đầy đủ và chưa thể thực hiện được tính minh bạch cần thiết. Các nghiên cứu về XHTN tại Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức mặc dù đây là một đề tài rất cần thiết và mang tính ứng dụng cao. Đặc biệt, những nghiên cứu về XHTN ngân hàng lại càng hiếm.
Định nghĩa xếp hạng tín nhiệm ngân hàng Xếp hạng tín nhiệm (Credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ Tiếng Anh (credit: sự tín nhiệm, ratings: sự xếp hạng) do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn Cẩm nang chứng khoán đường sắt khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty trên thị trường chứng khoán Mỹ theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái ABC được xếp lần lượt từ Aaa đến C (Hiện nay những chuẩn mực này đã trở thành chuẩn mực quốc tế). Ở Việt Nam thì thuật ngữ Credit ratings được dịch ra với nhiều nghĩa khác nhau như xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng tín dụng, định mức tín dụng, định mức tín nhiệm, đánh giá tín nhiệm,. Trong bài luận văn này tôi thống nhất dùng từ viết tắt XHTN thay cho xếp hạng tín nhiệm. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về XHTN.