Chương 1: Giới thiệu lý do chọn đề tài; Phân tích đặc thù của các yếu tố thuộc tổ chức, tài chính, nhân lực, công nghệ kỹ thuật,v.v…ảnh hưởng đến căng thẳng trong công việc; Mục tiêu nghiên cứu; Phạm vi và phương pháp nghiên cứu và Ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Khái niệm căng thẳng và các nguyên nhân gây căng thẳng trong công việc; Khái niệm hài lòng trong công việc; Mối quan hệ giữa căng thẳng và hài lòng trong công việc; Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, xử lý số liệu, thang đo; Chương 4: Điều chỉnh và kiểm định thang đo, kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Kết quả xử lý số liệu. Chương 5: Các đánh giá chung; kiến nghị; đóng góp chính và các hạn chế của nghiên cứu.
9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày và tổng kết các lý thuyết khái niệm căng thẳng và các nguyên nhân gây căng thẳng trong công việc; đồng thời giới thiệu qua về sự hài lòng trong công việc và mối quan hệ giữa sự căng thẳng và hài lòng trong công việc. Lựa chọn, giới thiệu mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Khái niệm căng thẳng trong công việc:. Căng thẳng là một khái niệm khó nắm bắt.
Nó đã được định nghĩa theo nhiều giác độ: như một tác nhân môi trường, một đáp ứng sinh lý, và như một quá trình nhận thức - hành vi. Các định nghĩa được trình bày ở nhiều khía cạnh khác nhau như sau: Căng thẳng - Một đáp ứng sinh học Theo cách nhìn sinh học, căng thẳng được định nghĩa là một đáp ứng sinh lý có tính không đặc hiệu, các loại sự kiện gây căng thẳng khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương tự nhau (Selye, 1956). Ông cho rằng khi một sinh vật đương đầu với một sự đe dọa cho sự sống còn của mình, thì các biến đổi sinh lý sẽ xảy ra theo một mô hình đã được “cài đặt” sẵn. Có sự gia tăng nhịp tim, huyết áp và hô hấp.
Máu được phân bố đến các bắp cơ lớn và các quá trình tiêu hóa bị ngưng lại. Những thay đổi này nhằm chuẩn bị cho cơ thể sinh vật ấy thực hiện được những hành động mạnh mẽ nhằm đáp ứng với sự đe dọa hoặc chống trả. Theo nghiên cứu của Mason (1975) là khi các kích thích có hại xảy đến mà không có sự nhận biết của đương sự, các đáp ứng sinh học sẽ không xảy ra. Do vậy, tiên đoán được một sự kiện có hại xảy ra vào lúc nào thì tốt hơn là khi không có thông tin gì về sự kiện này.
Một sự kiện đe dọa sẽ ít gây ra những hậu quả tai hại nếu chúng ta biết được khi nào nó sẽ xảy ra, nếu chúng ta có thể làm được một việc gì đó trước sự kiện ấy, và nếu chúng ta nhận được những phản hồi về hiệu quả của 10 hành động ấy. Tầm quan trọng của khả năng tiên đoán và kiểm soát cũng được thấy trong các đáp ứng của con người đối với những tác nhân gây căng thẳng (Rodin, 1980). Căng thẳng - Một sự kiện từ môi trường Căng thẳng được định nghĩa như một sự kiện từ môi trường đòi hỏi một cá nhân phải thử thách những tiềm năng và đáp ứng không bình thường (Holroyd, 1979). Căng thẳng trú ngụ trong những “đòi hỏi” của sự kiện hơn là bên trong cá nhân người ấy.
Mỗi một sự kiện nhất định đều có tính chất gây căng thẳng cả những sự kiện tích cực lẫn tiêu cực vì cả hai loại đều đòi hỏi sự thích ứng. Các sự kiện cũng không có tính gây căng thẳng như nhau ở tất cả mọi người. Mức độ căng thẳng cũng tùy thuộc vào những kỹ năng và tiềm năng sẵn có của đương sự trong việc ứng phó với sự kiện (Nuchol, Cassel và Kaplan, 1972) Căng thẳng - Một hiện tượng thuộc về nhận thức - hành vi Phương pháp tiếp cận về mặt nhận thức - hành vi định nghĩa căng thẳng như một quá trình tương giao giữa con người và môi trường, trong đó đương sự nhận định sự kiện từ môi trường là có tính chất đe dọa và có hại, và đòi hỏi đương sự phải cố gắng sử dụng các tiềm năng thích ứng của mình (Lazarus, 1966; Lazarus, Folkman, 1984). Hai quá trình trung tâm trong quan điểm tâm lý - hành vi là nhận định (cognitive appraisal) và ứng phó (coping).
Nhận định là quá trình mà qua đó đương sự đánh giá sự kiện là có tính đe dọa hoặc có hại hay không, nếu có thì ở mức độ nào. Một sự kiện chỉ gây căng thẳng khi đương sự nhận định là “có hại”. Ứng phó là quá trình xảy ra những đáp ứng về hành vi, nhận thức và tình cảm của đương sự đối với sự kiện. Một sự kiện chỉ gây căng thẳng khi đương sự thiếu các phương tiện để ứng phó.
Căng thẳng – Một quan điểm hệ thống Căng thẳng là một khái niệm mang tính tổ chức, liên hệ đến nhiều thông số và quá trình, xảy ra trên nhiều bình diện của sự phân tích: sinh lý, nhận thức - cảm xúc, hành vi và môi trường. Vì thế, căng thẳng là một đáp ứng tích hợp sinh học - 11 tâm lý - xã hội với những sự kiện được xem là có hại và đòi hỏi những kỹ năng ứng phó của đương sự. Tóm lại, điểm chung giữa các định nghĩa trên cho thấy sự căng thẳng trong công việc đối với người lao động là khi người lao động bị tác động bởi môi trường bên trong hoặc môi trường bên ngoài tạo ra những tình huống và ảnh hưởng không mong muốn trong công việc, đời sống, mà nó vượt quá khả năng thông thường của người lao động để ứng phó. Tác hại của căng thẳng Tác hại của căng thẳng lên tổ chức Nhóm tác giả Addae, Parboteeah và Velinor (2008) nghiên cứu mối quan hệ giữa các nguyên nhân căng thẳng, sự gắn kết đối với tổ chức và dự định nghỉ việc tại 7 bộ trong khu vực Nhà nước của St Lucia (Caribbean).
Kết quả cho thấy sự không rõ ràng trong trách nhiệm và xung đột có ảnh hưởng âm tới gắn kết về tình cảm (affective commitment)và gắn kết theo chuẩn mực (normative commitment). Tác hại của căng thẳng lên cá nhân người lao động Căng thẳng có nhiều nguyên nhân và các triệu chứng biểu hiện khác nhau, các nghiên cứu sâu xa đã chỉ rõ những tác hại của căng thẳng như sau: Yếu tố cơ thể và bệnh lý liên quan: mệt mỏi, dẫn đến cao máu, đổ mồ hôi, tim đập nhanh, chóng mặt, dẫn đến nhồi máu cơ tim, đau cơ bắp, muốn ngất đi, dẫn đến cảm sốt, mệt lả người, đau đầu, béo phì. Yếu tố liên quan đến việc làm: không hài lòng trong công việc, năng suất thấp, chất lượng giải quyết công việc kém, nghỉ việc. Yếu tố tình cảm: nhiều cảm xúc lẫn lộn, thay đổi nhanh, cảm thấy bồi hồi, lo lắng, sợ hãi, mặc cảm tội lỗi, dễ nổi giận hoặc buồn và cảm thấy vô vọng.
Yếu tố tư duy suy nghĩ: khó tập trung, lẫn lộn, nghi ngờ, suy nghĩ chậm, hoang tưởng, tự đổ lỗi và kết án bản thân, thấy mình dễ tổn thương. Yếu tố hành vi: khó ngủ, ăn không ngon, nói năng không rõ ràng, nói liên tục về một sự việc; hay tranh luận hoặc âm thầm rút lui; uống thuốc an thần, tự tử. 12 Những biểu hiện trên chính là triệu chứng, tác hại của căng thẳng gây nên, nếu không nhận ra và khắc phục có thể dẫn đến trầm cảm, là cảm giác mình không còn thứ gì đáng để quan tâm theo đuổi hay học hỏi, cuộc sống trở thành gánh nặng nên rất chán sống. Nguyên nhân gây căng thẳng trong công việc: Trên thế giới, các nghiên cứu về căng thẳng trong công việc quan tâm đến việc xác định nguyên nhân tạo nên căng thẳng, ảnh hưởng của căng thẳng trong công việc đến sức khoẻ, tình cảm, hành vi và hiệu quả thực hiện công việc Theo Price (1997), căng thẳng xuất hiện khi CBNV không có khả năng thực hiện các yêu cầu của công việc và có các nhóm nguyên nhân sau tạo nên căng thẳng: (1) trách nhiệm công việc không rõ ràng; (2) thực hiện công việc ở các vai trò xung đột; (3) có quá nhiều việc; (4) không đủ nguồn lực để thực hiện; (5) công việc nguy hiểm; (6) công việc không an toàn.
Nghiên cứu của Lait và Wallace (2002) khám phá ảnh hưởng của điều kiện làm việc đến căng thẳng trong công việc trong ngành dịch vụ của Canada đã chỉ ra rằng các thủ tục hành chính có thể xung đột với tính chuyên nghiệp trong nghề nghiệp và tạo nên căng thẳng. Nghiên cứu trong nước thì theo nghiên cứu của bác sĩ, nhà tâm lý học Nguyễn Minh Tiến (2007) về căng thẳng trong công việc. Có 10 nguyên nhân gây nên căng thẳng trong công việc: + Công việc đe dọa đến sức khỏe và sự an toàn bản thân: là những công việc mang đến sự nguy hiểm về thể chất, điều kiện và môi trường làm việc không lành mạnh, ô nhiễm, ồn ào…hay có quá nhiều công việc nặng về thể chất, lao động trí óc căng thẳng thần kinh, lao tâm, lao lực. + Căng thẳng do quá tải công việc: những công việc chẳng bao giờ làm xong, những thời hạn cuối cùng không thực tế, phải đem việc về nhà làm thêm, công việc có trách nhiệm với quá nhiều người, không được trợ giúp đầy đủ khi làm việc, và thiếu người phụ tá.
13 + Sự an toàn của công việc bị đe dọa như đe dọa bị sa thải, đuổi việc, bảo hiểm y tế không đầy đủ, thiếu sự khen thưởng bằng tài chính. + Áp lực về thời gian lên công việc: Công việc phải hoàn thành với thời gian quá ngắn, công việc cần phải làm với tốc độ quá nhanh, điều khiển công việc đáp ứng nhịp độ của máy móc, làm việc theo ca, không có thời gian nghỉ giải lao giữa giờ, không có thời gian rảnh tay với công việc, không có sự thay đổi về nhịp độ của công việc, hoặc phải làm việc quá chậm cũng gây nên một áp lực với công việc. + Căng thẳng do công việc “thiếu tải”, công việc làm không hết khả năng, năng lực của người lao động: như tình trạng thiếu công việc để làm, hoặc người lao động phải làm ra vẻ là công việc bận rộn, hay không được giao đủ trách nhiệm, tri thức, kỹ năng và năng lực của người lao động không được sử dụng, hay những trường hợp người lao động có trình độ quá cao so với công việc họ đang làm, hay không có cơ hội thăng tiến.