CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong khoảng 30 năm trở lại đây, xuất hiện nhiều ý kiến phê phán sự không phù hợp của các kỹ thuật KTQT truyền thống trong điều kiện môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi (Spicer, 1992; Bork & Morgan, 1993; Beng et al, 1994;.Gosselin, 1997; Chenhall, 2003; Askarany & Smith, 2004). Các phê phán đều cho rằng các kỹ thuật KTQT truyền thống không đáp ứng được nhu cầu thông tin cho các NQT trong các DN. Đặc biệt là từ khi xuất hiện bài báo của Kaplan (1987) bàn về sự không phù hợp của các kỹ thuật KTQT truyền thống trong môi trường kinh doanh thay đổi, một loạt các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này được thực hiện. Lawrence và Ratcliffe (1990) đã khảo sát và cung cấp các bằng chứng về mức độ không hài lòng của các NQT và nhân viên KTQT đối với các kỹ thuật KTQT đang được sử dụng trong các DN.
Bork và Morgan (1993) cũng cho rằng các kỹ thuật KTQT truyền thống đã không theo kịp với nhu cầu thông tin ngày càng tăng trong điều kiện môi trường kinh doanh và công nghệ sản xuất đã thay đổi. Sự thay đổi của môi trường kinh doanh đã đặt ra nhu cầu phải xem xét lại sự phù hợp của các kỹ thuật KTQT. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về tình trạng áp dụng KTQT trong các DN để kiểm chứng các nhận định trên (Chenhall & Langfield-Smith, 1998; Wijewardena & Zoysa, 1999; Bressler & Bressler, 2003; Wu, 2003; O'Connor và cộng sự, 2004; Hyvonen, 2005; Cinquini & Tenucci, 2007; Davila & Foster, 2009; Angelakis và cộng sự, 2010; Alleyne & Weekes-Marshall, 2011; Akenbor & Okoye, 2012; Doan Ngoc Phi Anh, 2012; Abadi và cộng sự, 2013; Ahmad, 2013; Bogale, 2013; Karunaratne, 2013; Mohsen & Ramy, 2013; Karanja và cộng sự, 2014; Saaydah & Khatatneh, 2014; Botha, Vermaak, & Toit, 2015). Tiếp sau các nghiên cứu về tình trạng áp dụng là các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng áp dụng KTQT (Z.
Xiao, 1995; Maelah & Ibrahim, 2007; Subasinghe & Fonseka, 2009; Ehab & Hussain, 2010; Mat, Smith, & Djajadikerta, 2010; James, 2013; Ahmad & Leftesi, 2014; Halbouni, 2014; Doan, 2016) và các nghiên cứu về sự phát tán đổi mới KTQT (Johnson & Kaplan 1987; Cooper & Kaplan, 1991; Johnson, 1992; Anderson & Young, 1999; Malmi, 1999; Booth & Giacobbe, 1998; Chenhall & Langfield-Smith, 1998; Askarany & Smith, 2001, 2003; Askarany, 2003; ; Gosselin, 1997; Maiga & Jacobs, 2003) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các nghiên cứu tập trung tìm hiểu việc áp dụng KTQT trong các DN trong các lĩnh vực và khu vực địa lý khác nhau nhằm có được sự hiểu biết tốt hơn về các kỹ thuật KTQT và ứng dụng của chúng trong các DN. Theo Nandan (2010); Perren & Grant (2000) các nghiên cứu trong lĩnh vực này bao gồm các khảo sát trên quy mô lớn để đánh giá việc áp dụng KTQT trong các DN có quy mô khác nhau (ví dụ, Abdel- Kader và Luther 2006) đến các nghiên cứu về tình trạng áp dụng của các kỹ thuật KTQT cụ thể như Sousa, Aspinwall và Rodrigues 2006 nghiên cứu về việc áp dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trong các DN. Một số nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng các kỹ thuật KTQT trong các DN hoạt động trong một ngành cụ thể (ví dụ như, Abdel-Kader và Luther 2006 nghiên cứu trong ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống Vương quốc Anh), Fonseka (2005), Waweru (2005) nghiên cứu sự thay đổi KTQT trong các DN thương mại, Ngingo (2012), Oyerogba (2015) nghiên cứu trong các công ty niêm yết chứng khoán; Sunarni (2014) nghiên cứu KTQT trong các DN dịch vụ; Uyar (2010), Mat (2010), Sulaiman (2003), Hyvonen (2005), Maqbool-ur-Rehman (2011), Abdel-Maksoud (2011), Alleyne (2011) nghiên cứu KTQT trong các DN sản xuất. Một số tác giả nghiên cứu việc áp dụng KTQT tại một số quốc gia như Armitage & Webb (2013) nghiên cứu tại Canada; (Hyvonen, 2005) nghiên cứu và so sánh việc áp dụng KTQT tại Phần Lan và Úc; (Nelson M.
Waweru, Hoque, & Uliana, 2005) nghiên cứu tại Nam Phi; Anand, Sahay, & Saha (2004), Joshi (2001), Kallapur & Krishnan (2009) nghiên cứu việc áp dụng KTQT trong các DN Ấn Độ; Bee (2007) nghiên cứu việc áp dụng KTQT tại Singapore; Karunaratne (2013) nghiên cứu tại Sri Lanca; tại Malaysia có các nghiên cứu của (Amah Kamilah, 2012); (Sunarni, 2013) nghiên cứu tại Indonesia; (Sumkaew, Liu, & McLaren, 2012) nghiên cứu tại Thái Lan; O'Connor, Chow, & Wu (2004); Xiao, Chow, & Duh (2006) nghiên cứu áp dụng KTQT trong các DN Trung Quốc. Tại Việt Nam có nghiên cứu của Nishimura (2005), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), Nguyễn Thị Phương Dung (2014), v.v… Một số tác giả thực hiện nghiên cứu việc áp dụng KTQT theo khu vực địa lý như Hopper, Tsamenyi, Uddin, & Wickramasinghe, (2009); Karanja, Mwangi, & Nyaanga, (2014) nghiên cứu việc áp dụng KTQT tại các nước đang phát triển; Yalcin (2012) nghiên cứu việc áp dụng KTQT tại Thổ Nhĩ Kỳ và so sánh với các nghiên cứu trước đó tại Hy Lạp, Phần Lan, Ấn Độ, Úc và Nhật Bản; McLellan & Moustafa (2011) nghiên cứu KTQT trong các nước vùng Vịnh; Sulaiman và cộng sự (2004) nghiên cứu việc áp dụng KTQT trong các DN thuộc 4 nước châu Á. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nghiên cứu về tình trạng áp dụng kỹ thuật kế toán quản trị trong các DN Dựa trên mô hình nghiên cứu của De Meyer và cộng sự (1989) và Miller và cộng sự (1992) về các phương pháp sản xuất sẽ áp dụng trong tương lai, Chenhall và Langfield-Smith (1998) nghiên cứu tình trạng áp dụng KTQT tại 140 DN lớn trong ngành công nghiệp chế biến của Úc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các kỹ thuật KTQT truyền thống như lập dự toán, đánh giá hiệu quả theo ROI vẫn được đánh giá cao và được đa số các DN sử dụng. Các kỹ thuật KTQT hiện đại được sử dụng ở mức độ tương đối thấp do chưa được đánh giá cao cũng như sử dụng phức tạp. Các phương pháp chi phí mục tiêu, hạch toán chi phí theo hoạt động (ABC), Chi phí theo chuỗi giá trị bị đánh giá thấp nhất trong số các kỹ thuật KTQT được khảo sát với tỷ lệ sử dụng dưới 50%. Chenhall và Langfield-Smith (1998) đã sắp xếp thứ tự tình trạng áp dụng KTQT trong các công ty Úc là: hạch toán chi phí theo hoạt động (thứ 24), quản trị theo hoạt động (thứ 21), Hạch toán chi phí theo vòng đời (thứ 20), Chi phí theo chuỗi giá trị (thứ 26), chi phí mục tiêu (thứ 27).
Trong khi đó, mức độ chấp nhận các kỹ thuật KTQT truyền thống được xếp hạng cao hơn như: lập dự toán (thứ 1), dự toán vốn (thứ 2), đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (thứ 3). So sánh với tình trạng áp dụng KTQT tại Mỹ, Anh và một số nước châu Âu, Chenhall và Langfield-Smith (1998) kết luận rằng tỷ lệ áp dụng KTQT mới được phát triển ở các nước Mỹ, Anh và châu Âu thậm chí còn thấp hơn so tỷ lệ áp dụng tại Úc (Chenhall & Langfield-Smith, 1998). Mô hình nghiên cứu của Chenhall & Langfield-Smith sau này được nhiều công trình nghiên cứu khác áp dụng để nghiên cứu tình trạng áp dụng KTQT trong các DN ở các nước hoặc trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau như Clarke, 1997; Ghosh & Chan, 1997; Schildbach, 1997; Pierce & O’Dea, 1998; Shields, 1998; Wijewardena & Zoysa, 1999; Abdel-Kader và Luther, 2006 và Ahmad, 2012. Clarke và cộng sự (1997) nghiên cứu tình hình áp dụng KTQT trong các DN ở Ireland.
Các số liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát câu hỏi gửi tới 511 công ty sản xuất. Họ phát hiện ra rằng phương pháp ABC không được các DN Ireland sử dụng rộng rãi như trong các công ty ở Mỹ, Anh, và Canada. Nguyên nhân được cho là các nhân viên kế toán ở Ireland làm việc như những người ghi sổ mà không phải là những người làm việc sáng tạo để hỗ trợ cho các NQT trong quá trình ra quyết định. Điều này cho cho thấy các nhân viên KTQT ở Ireland không hiểu về ABC (Clarke, 1997).
Abdel-Kader và Luther (2006) đã sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu thực nghiệm từ 122 công ty trong ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống ở Anh và kết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 luận rằng các kỹ thuật KTQT truyền thống vẫn được sử dụng rộng rãi. Các kỹ thuật KTQT hiện đại, đặc biệt là các kỹ thuật KTQTCL, mặc dù được đánh giá là “rất quan trọng” nhưng hiếm khi được sử dụng để quyết định quản lý chiến lược (Abdel-Kader & Luther, 2006). Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy rằng các kỹ thuật KTQTCL được đánh giá tương đối thấp, trái với mong đợi của các tác giả. Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu trước đó của Chenhall & Langfield-Smith (1998) tại Úc và của một số tác giả khác.
Tại Hungary, Nora (2009) nghiên cứu việc áp dụng KTQT trong các DN nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 12 kỹ thuật KTQT được khảo sát, một số phương pháp có tình trạng áp dụng cao như sử dụng thông tin để ra quyết định, cắt giảm chi phí, cung cấp thông tin cho lập kế hoạch. Các phương pháp có mức độ áp dụng thấp gồm: kế toán trách nhiệm, đánh giá nhân viên và đo lường hiệu quả. Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân một số kỹ thuật KTQT có tỷ lệ áp dụng thấp là do không có kinh nghiệm, thiếu thông tin, thiếu kinh phí và quy mô DN nhỏ không cần phải áp dụng (Nora, 2009).
Hyvonen (2005), nghiên cứu trong các DN sản xuất quy mô lớn ở Phần Lan để xác định tình trạng áp dụng KTQT và lợi ích thu được cũng như dự định áp dụng KTQT trong tương lai trong các DN này. Kết quả nghiên cứu cho thấy các DN Phần Lan coi trọng các thước đo tài chính và các phương pháp phân tích lợi nhuận sản phẩm, lập dự toán để kiểm soát chi phí. Các kỹ thuật KTQT hiện đại như lập kế hoạch chiến lược, dự báo chiến lược cũng được sử dụng rộng rãi. Tác giả kết luận rằng trong khi các thước đo tài chính được áp dụng rộng rãi và sẽ còn quan trọng trong tương lai, các kỹ thuật KTQT mới sẽ được coi trọng hơn như khảo sát sự hài lòng của khách hàng và đánh giá thái độ nhân viên.
Ngoài ra, bằng cách so sánh kết quả nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998), Hyvonen (2005) cho rằng các công ty Phần Lan chú trọng nhiều hơn đến các thước đo phi tài chính mới được phát triển gần đây so với các công ty Úc (Hyvonen, 2005). Haldma và Laats (2002) nghiên cứu sự thay đổi của KTQT trong các DN Estonia.