CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Lan phi điệp tím (Dendrobium anosmum Lindl.) là loài lan quý với các đặc tính nổi trội về hình thái thân lá, cấu trúc hoa, màu sắc, sự phân bố sắc tố trên cánh hoa, và có mùi hương dễ chịu (Nguyễn Văn Vinh, 2019). Bên cạnh đó, các giống hoa lan đột biến như 5 cánh trắng Phú Thọ, 5 cánh trắng Hiển Oanh… cũng đang rất được ưa chuộng và đem lại những giá trị mới mẻ cũng như tiềm năng kinh tế lớn với những ai sở hữu được những giống lan đột biến này. Hiện nay, với sự gia tăng nhu cầu về hoa lan, nên việc nhân nhanh keiki lan phi điệp tím để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra nhiều lợi ích kinh tế là cần thiết. Tuy nhiên việc nhân nhanh keiki của lan phi điệp tím cũng cần phải đảm bảo việc đúng giống, đúng mặt hoa, do đó việc xác định mặt hoa để chuẩn giống là tiêu chí quan trọng trong việc thương mại dòng hoa lan phi điệp tím.
Để giúp cho việc hình thành hoa và chồi được thực hiện dễ dàng thì nhiều chất điều hòa sinh trưởng đã được sử dụng như BAP và NAA. Chất điều hòa sinh trưởng NAA là một loại auxin tổng hợp có đặc tính kích thích sinh trưởng và ảnh hưởng đến sự kéo dài của chồi và BAP là một loại hormone thực vật thuộc nhóm cytokinin tổng hợp có chức năng như một chất kích thích sự phát triển của chồi, ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của tế bào và là động cơ thúc đẩy các quá trình sinh lý của thực vật (Penulis, 2021). Việc kích thích hình thành hoa và chồi (keiki) ở lan phi điệp tím trong điều kiện in vivo để hỗ trợ quá trình nhân giống và chuẩn giống thì trên thị trường hiện nay có các sản phẩm như KeikiPro, Keiki Duy Pro, Keiki Duy Spray. Tuy nhiên vẫn chưa xác định được chính xác nồng độ của các sản phẩm này tác động đến lan phi điệp tím.
Hơn nữa, các sản phẩm này vẫn chưa có sự chuyên biệt cho việc hình thành hoa hoặc hình thành keiki trên lan phi điệp tím. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng BAP, NAA và ẩm độ môi trường đến sự hình thành hoa và keiki ở lan phi điệp tím (Dendrobium anosmum Lindl.) trong điều kiện in vivo’’ được thực hiện nhằm xác định được ảnh hưởng của BAP và NAA đến sự tạo thành hoa và keiki trên lan phi điệp tím.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định được nồng độ chất điều hòa sinh trưởng thực vật BAP và NAA gây ảnh hưởng đến việc hình thành hoa và keiki ở lan phi điệp tím. Xác định được ẩm độ của môi trường tác động đến việc hình thành hoa và keiki ở lan phi điệp tím.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Cây lan phi điệp tím (Dendrobium anosmum Lindl.) thu thập từ vườn Nguyệt Nhi.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Khảo sát ảnh hưởng chất điều hòa sinh trưởng BAP và NAA đến khả năng hình thành hoa và keiki của lan phi điệp tím (Dendrobium anosmum Lindl. Khảo sát ảnh hưởng của ẩm độ môi trường đến việc hình thành hoa và keiki ở lan phi điệp tím (Dendrobium anosmum Lindl.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Đóng góp về mặt khoa học Kết quả đề tài là cơ sở khoa học góp phần trong công tác nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật BAP và NAA đến lan phi điệp tím (Dendrobium anosmum Lindl.
Đóng góp về mặt thực tiễn Tạo cơ sở cho việc sản xuất sản phẩm kích thích hình thành hoa và keiki trên lan phi điệp tím. Xác định được nồng độ chất điều hòa sinh trưởng BAP và NAA để thúc đẩy việc hình thành hoa và keiki trên lan phi điệp tím. Xác định được việc ảnh hưởng của ẩm độ môi trường đến việc hình thành hoa và keiki trên lan phi điệp tím. 2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VỀ LAN PHI ĐIỆP TÍM (Dendrobium anosmum Lindl.1 Phân loại thực vật Dendrobium anosmum Lindl.
là một loài thực vật thuộc họ phong lan (Orchidaceae). Đây là loài đặc trưng của chi hoàng thảo (Dendrobium). Tên khoa học: Dendrobium anosmum Lindl. Phân loại theo hệ thống phân loại NCBI: Cellularorganisms; Eukaryota; Viridiplantae; Streptophyta; Streptophytina; Embryophyta; Tracheophyta; Euphyllophyta; Spermatophyta; Magnoliopsida; Mesangiospermae; Liliopsida; Petrosaviidae; Asparagales; Orchidaceae; Epidendroideae; Malaxideae; Dendrobiinae; Dendrobium.
Theo hệ thống APG III thì lan được phân loại như sau: Giới Plantae Ngành Angiospermae Lớp Monocotylendons Bộ Asparagales Họ Orchidaceae Chi Dendrobium Loài Dendrobium anosmum Lindl.2 Nguồn gốc và phân bố Dendrobium anosmum Lindl. có nguồn gốc ở Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Papua New Guinea, Philippines, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam, chúng mọc biểu sinh trên cây rừng, ở độ cao khoảng 1000 m, trong các đới đặc trưng bởi khí hậu gió mùa (Mario Beltramini, 2020). Lan phi điệp tím ở Việt Nam thường được gọi là dã hạc, giả hạc, lưỡng điểm hạc, phi điệp,… Chúng có mặt tại các rừng thuộc Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Đô Lương, Vinh, Đà Lạt, Đắk Lắk, Sông Bé, Lộc Ninh,… (Bùi Bảo Lộc, 2008).3 Đặc tính sinh học của phi điệp 2.1 Đặc điểm hình thái Rễ: rễ phi điệp tím thuộc loại rễ bì sinh, xung quanh rễ được bao bởi một lớp mô xốp giúp cây dễ dàng hút nước, muối khoáng và ngăn chặn ánh sáng mặt trời gay 3 gắt. Chóp rễ có màu xanh lá cây (hình 1), ở phần rễ có các sắc lạp không bị ngăn bởi mô xốp nên có thể giúp cây quang hợp (Nguyễn Thu Hường, 2016).
Hình 1: Rễ lan phi điệp tím Thân: Phong lan phi điệp tím là loài lan đa thân, có thân dài, có khi dài đến 1,2 m, buông rũ xuống hay còn gọi là thân thòng. Trên thân nảy ra các chồi tạo thành nhiều cây con (keiki). Thân giả hành chứa diệp lục, dự trữ nước và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của giả hành mới (Đào Thanh Vân, 2008) (hình 2). Hình 2: Thân lan phi điệp tím Lá: ở phi điệp tím lá mọc so le nhau và thường mọng nước.
Mỗi lá có chiều dài từ 7 – 12 cm và chiều rộng từ 4 – 7 cm. Lá của mỗi loại lan phi điệp sẽ khác nhau tùy thuộc vào xuất xứ và điều kiện sinh sống của từng loại, có những loại lan có lá tròn, nhưng có loại thì lá lại thon dài (hình 3). Trên lá của lan phi điệp cũng có các chấm tím như thân của nó. Khi cây rụng lá chờ ra hoa, thân cây sẽ chuyển sang màu trắng xám và loang lổ các đốm đen như bị mốc.
Thân già sẽ trở nên khô và teo nhỏ lại, chuyển sang màu nâu tím hoặc màu vàng rơm và khá bóng (Phong lan rừng, 2016). 4 Hình 3: Lá lan phi điệp tím Hoa: Hoa mọc trên cả thân giả hành cũ và giả hành mới. Trên cánh có phủ lông mịn và có ánh kim, trên lưỡi hoa thường có hai mắt tím đậm (hình 4). Bên trong hoa có cột nhị nhụy nằm chính giữa hoa mang phần đực ở phía trên và phần cái ở phía trước mặt.
Nhị gồm hai phần bao phấn và hốc phấn. Bao phấn nằm ở cột nhị nhụy còn hốc phấn thì lõm lại mang khối phấn và thường song song với bao phấn. Khối phấn gồm toàn bộ hạt phấn dính lại với nhau, rất cứng (Nguyễn Thu Hường, 2016). Hình 4: Hoa lan phi điệp tím Quả: Hoàng thảo phi điệp tím có quả thuộc loại quả nang nở ra theo 3 – 6 đường nứt dọc, khi chín quả nở ra, mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc (hình 5).
Bên trong chứa rất nhiều hạt, khi chín hạt có màu vàng. Hạt cấu tạo bởi một phôi chưa phân hóa, trên một máng lưới nhỏ, xốp chứa đầy không khí. Hạt rất nhiều và nhỏ, rất nhẹ nên dễ phát tán nhờ gió (Nguyễn Thu Hường, 2016). 5 Hình 5: Quả lan phi điệp tím 2.2 Đặc điểm sinh trưởng Chu kỳ sinh trưởng của phong lan phi điệp tím bắt đầu vào mùa xuân, khi đó chúng bắt đầu cho thấy sự phát triển mới.
Phong lan phi điệp tím là loài tương đối dễ trồng thuộc loài ưa sáng, có thể chịu được cường độ ánh sáng cao, chúng có thể nhận cường độ ánh sáng mặt trời từ 50 – 80% (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2008). Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của lan con mới ra là từ 20 – 27 oC, đối với cây lan phi điệp tím thì nhiệt độ ban ngày là 26,7 – 32,2 oC và nhiệt độ ban đêm từ 18,3 – 21,1 oC (Trần Thị Hà, 2013). Lan phi điệp thuộc cây ưa ẩm, ẩm độ càng cao, rễ mọc càng nhanh và phát triển tốt, ẩm độ thích hợp 50 – 70%, nếu độ ẩm quá thấp cây sẽ còi cọc chậm lớn (Trần Thị Hà, 2013). Ngoài ra, lan phi điệp tím sinh trưởng và phát triển theo từng mùa, nở hoa theo mùa và chúng cần có giai đoạn nghỉ.
Chu kỳ nghỉ của lan phi điệp tím bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 2. Khoảng thời gian bắt đầu khi nhiệt độ vào ban đêm bắt đầu giảm xuống. Thường lan sẽ nảy mầm vào mùa hè – thu, nghỉ vào mùa đông. Đến cuối mùa thu – đầu mùa đông, thân cây bắt đầu thắt ngọn và lá vàng dần đi, rụng từ từ.
Ngay sau khi chu kỳ ngủ đông kết thúc, chồi bắt đầu hình thành trên thân của cây mẹ và cây chuẩn bị nở hoa. Trong những tháng lạnh nhu cầu về nước và dinh dưỡng của chúng có xu hướng giảm. Trong thời gian nghỉ của cây chủ yếu cần cung cấp nước (Gardeningit, 2020). Chu kỳ ra hoa thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 5 nhưng các loài cây khác nhau có thể nở hoa vào các tháng khác nhau.
Chúng nở vào những tháng lạnh, đặc biệt là vào tháng hai và hoa bền trong khoảng 6 đến 7 tuần. Những bông hoa mọc ra từ các mắt ngủ cùng với keiki của cây (Gardeningit, 2020). 6 Lan phi điệp tím sinh sản vô tính bằng chồi bên hay gọi là mắt ngủ. Mắt ngủ chứa mô phân sinh, nằm bên trong lớp bao lá, có thể phát triển thành chồi còn gọi là keiki hoặc hoa tùy theo điều kiện môi trường và dinh dưỡng của cây mẹ (hình 6).
Hình 6: Keiki lan phi điệp tím 2.2 PHYTOHORMONE VÀ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT THUỘC NHÓM AUXIN VÀ CYTOKININ Theo Neumann và cs. (2009) định nghĩa thì phytohormone là chất được tạo ra trong một số mô ở các giai đoạn phát triển nhất định của cây, và sau đó được phân bố bởi hệ thống mạch, thường thực hiện các chức năng tại các mô ở rất xa với nồng độ thấp. Trên thực tế, phytohormone là một loại hệ thống tín hiệu để điều hòa sự sinh trưởng và phát triển của thực vật.