Chương 1 trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu và bố cục luận văn. Chương 2 sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết phục vụ cho nghiên cứu. 17 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày, định nghĩa các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu như tri thức, quản lý tri thức, động lực, mạng xã hội, fanpage facebook, trình bày các nghiên cứu liên quan dẫn đến mô hình đề xuất kèm theo các giả thuyết trong mô hình.1 Các khái niệm liên quan Tri thức (Knowledge) thường được dùng để chỉ đến sự hiểu biết mang tính hệ thống của con người về một đối tượng nào đó, về mặt lý thuyết hay thực hành [17]. Bảng dưới đây mô tả một số định nghĩa về tri thức.1 Tóm tắt một số định nghĩa về tri thức Nhà nghiên cứu Năm Định nghĩa Tri thức bao gồm các giới hạn ngầm và rõ ràng đặt trên các đối tượng (thực thể), các hoạt động J.Sowa 1984 và các mối quan hệ cùng với các thủ tục phỏng đoán và suy luận nói chung và cụ thể có liên quan đến tình huống được mô hình hóa.[24] Tri thức được tổ chức từ các thông tin thích hợp H.
Woolf 1990 để giải quyết vấn đề. Tri thức là thông tin đã được tổ chức và phân tích E. Turban 1992 để trở nên dễ hiểu và có thể áp dụng được để giải quyết vấn đề hoặc ra quyết định.[25] Tri thức bao gồm các chân lý và niềm tin, các K. Wiig 1993 quan điểm và khái niệm, các đánh giá và mong đợi, các phương pháp và bí quyết.
Nonaka 1995 Tri thức : niềm tin được chứng minh là đúng [15] 18 Tri thức được rút ra từ thông tin và dữ liệu để hỗ trợ tích cực cho việc nâng cao hiệu suât làm việc, T. Beckman 1999 cách giải quyết vấn đề, ra quyết định, học tập và giảng dạy. Quản lý tri thức (QLTT): có nhiều cách định nghĩa quản lý tri thức tùy theo góc nhìn thực tế: + Từ góc nhìn kinh doanh: QLTT là một hoạt động kinh doanh với hai khía cạnh chính: xem tri thức như là quan tâm chính, thể hiện ở chiến lược, chính sách, và thực tế kinh doanh ở mọi cấp độ của tổ chức; và thiết lập kết nối giữa tài sản trí tuệ của tổ chức với kết quả hoạt động kinh doanh (Barclay & Murray, 1997) [2]. + Từ góc nhìn của khoa học nhận thức: Tri thức - tầm nhìn, hiểu biết, và kinh nghiệm mà chúng ta sở hữu - là tài nguyên căn bản giúp ta có thể hoạt động một cách thông minh.
Tri thức tích lũy có thể chuyển giao, nếu được sử dụng hợp lý, sẽ làm tăng hiệu quả, và tạo ra sự thông minh của cá nhân hay tổ chức. + Từ góc nhìn công nghệ: QLTT là khái niệm gắn liền với hệ thống thông tin, mà nhờ đó thông tin được chuyển thành tri thức hành động và được chuyển giao nhanh chóng dưới dạng sử dụng được đến những người đang cần. Các nhà tâm lý học thường sử dụng một định nghĩa rộng hơn, bao hàm cả các nguồn tạo động lực khác, hay là mang lại lợi ích nhóm hay lợi ích cho mạng xã hội của một người (Snyder & Cantor, 1998) [22]. - Fanpage là một trang được lập ra từ facebook của một cá nhân hoặc một công ty, doanh nghiệp nào đó, nó tạo ra một nhóm cộng đồng cùng có một sở thích chung nào đó (cùng độ tuổi, ở cùng 1 ví trí địa lý, cùng một sở thích…) gắn kết lại với nhau giúp những người này có thể tương tác với nhau dễ hơn.
Với việc tương tác giữa dễ dàng giữa các thành viên trong nhóm thì khi bạn đăng một bài viết, hoặc một hình ảnh nào đó thì tất cả mọi người trong 19 fanpage đều nhìn thấy bài viết đó. Vì vậy việc sở hữu một Fanpage có một lượng người thích lớn điều này sẽ giúp việc bán hàng, quảng bá sản phẩm, dịch vụ của bạn được tốt hơn, giúp bạn tăng doanh thu hiệu quả.2 Lý thuyết nền - Thuyết hành động hợp lý (TRA) được Fishbein và Ajzen đưa ra từ năm 1967 cho rằng: yếu tố quan trọng nhất quyết định hành vi của con người là ý định thực hiện hành vi đó. Ý định thực hiện hành vi được quyết định bởi hai nhân tố: thái độ của một người về hành vi và tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi. Kết quả của hai yếu tố này hình thành nên ý định thực hiện hành vi.
Trên thực tế, lý thuyết này tỏ ra rất hiệu quả khi dự báo những hành vi nằm trong tầm kiểm soát của ý chí con người Hình 2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) - Mô hình động cơ thúc đẩy của Porter, Lawler và Hackman Mô hình cho thấy, sự thoả mãn hay hài lòng là kết quả tổng hợp của nhiều phần thưởng. Sự cố gắng hay sức mạnh của động cơ thúc đẩy tuỳ thuộc vào giá trị của phần thưởng và khả năng nhận được phần thưởng đó. Tiếp đến, kết quả thực hiện nhiệm vụ được xác định bởi động cơ thúc đẩy, khả 20 năng làm việc của con người (kiến thức và kỹ năng) và sự nhận thức về nhiệm vụ cần thiết. Phần thưởng nội tại (tiền bạc, hiện vật) và phần thưởng bên ngoài (điều kiện làm việc, địa vị) là kết quả của sự thực hiện tốt nhiệm vụ tất yếu.
Những phần thưởng này cùng với phần thưởng hợp lý theo nhận thức (nghĩa là mỗi cá nhân nhận thức về tính hợp lý và sự công bằng đối với sự tưởng thưởng) sẽ dẫn đến sự thoả mãn. Mô Hình Động Cơ Thúc Đẩy của Porter và Lawler - Thuyết trao đổi xã hội (Social Exchange Theory - SET) là một góc độ tâm lý và xã hội học giải thích sự thay đổi xã hội và ổn định là một quá trình giao lưu thương lượng giữa các bên. Lý thuyết trao đổi xã hội thừa nhận rằng mối quan hệ của con người được hình thành bằng cách sử dụng một phân tích chi phí-lợi ích chủ quan và so sánh các lựa chọn thay thế. Lý thuyết này có gốc rễ trong kinh tế học, tâm lý học và xã hội học.
Lý thuyết trao đổi xã hội có nhiều giả định chính được tìm thấy trong lý thuyết lựa chọn hợp lý và cấu trúc luận. Nó cũng được sử dụng khá thường xuyên trong thế giới kinh doanh để ngụ ý một quá trình hai mặt, cùng có lợi ích liên quan đến các giao dịch hoặc chỉ đơn giản là trao đổi.2 Các nghiên cứu liên quan 2.1 Nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu của Gina Harden thuộc Đại Học North Texas (2012) chỉ ra ảnh hưởng của niềm tin (Trust), rủi ro (Risk), lợi ích (Benefit), ảnh hưởng xã hội (Social influence) lên ý định chia sẻ tri thức của nhân viên sử dụng social media technology trong tổ chức. Kết quả cho thấy các cá nhân đóng góp kiến thức cho cộng đồng ảo khi họ cảm thấy kiến thức của mình có giá trị và có liên quan đến cộng đồng, và khi họ có nhận thức nhóm cao. Ta thấy được yếu tố động lực quan hệ xã hội nằm trong sự ảnh hưởng xã hội (Social influence) và yếu tố thưởng nằm trong lợi ích đạt được (Benefit).3 Mô hình nghiên cứu của Gina Harden (2012) [6] Trong mô hình này nhận thấy có sự hiện diện của cơ chế thưởng, một yếu mới khá quan trọng thúc đẩy sự sẵn lòng chia sẻ tri thức của các thành viên mạng xã hội, đồng thời những yếu tố như giá trị mong đợi, cảm nhận giá trị bản thân có thể được xem xét như một yếu tố mới gọi là động lực chia sẻ tri thức.
Một nghiên cứu khác của Chen và cộng sự thuộc đại học Quốc gia Đài Loan đưa ra hai giả thuyết. Giả thuyết thứ nhất: động lực chia sẻ tri thức chịu ảnh hưởng của cơ chế thưởng, đó là ảnh hưởng dương mang tính tích cực đã được kiểm chứng. Giả thuyết thứ hai: cơ chế thưởng cùng với động lực chia sẻ tri thức sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của các thành viên trong cộng đồng ảo, từ đó khiến họ sẵn sàng và chủ động chia sẻ kiến thức của mình. Tuy nhiên giả thuyết này không được kiểm chứng tính đúng đắn vì kết quả cho thấy những hệ số tính toán cho ra những con số thấp.4 Mô hình nghiên cứu của Chen và cộng sự (2012) [3] 2.2 Nghiên cứu trong nước Bài nghiên cứu “Ảnh hưởng giữa mối quan hệ của các cá nhân và lòng vị tha lên hành vi chia sẻ tri thức qua mạng xã hội Facebook” (2016) [27], tác giả Võ Trung Nghĩa đã nhận diện và đo lường được các yếu tố thuộc mối quan hệ giữa các cá nhân và lòng vị tha lên hành vi chia sẻ tri thức.
Ba yếu tố đã được kiểm chứng đó là lòng vị tha, động lực gắn kết và cam kết mối quan hệ trên Facebook đều có ảnh hưởng dương lên hành vi chia sẻ tri thức. Tuy nhiên trong bài nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập đến động lực gắn kết, còn những động lực khác như động lực thu hút, động lực mối quan hệ, động lực mối quan tâm chưa được xem xét, cũng như chưa xét đến tác động của cơ chế thưởng.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức qua mạng xã hội facebook ( Võ Trung Nghĩa, 2016) [27] 23 Bài nghiên cứu của Huỳnh Vi Khiết “The impacts of using SNSs on e- WOM and knowledge sharing through social captital : An empirical study in Viet Nam” [21] nghiên cứu tác động của việc sử dụng SNSs (Social Network Sites)- những trang web mạng xã hội lên Vốn xã hội, sự chia sẻ tri thức và môi trường truyền miệng ( e-WOM). Kết quả cho thấy yếu tố lòng tin có tác động tích cực lên chất lượng của e-WOM, đồng thời cũng cho thấy chất lượng của e-WOM ảnh hưởng tích cực lên việc chia sẻ tri thức thông qua môi trường SNSs ( được kiểm chứng tại ngữ cảnh Việt Nam). Hạn chế bài báo là chỉ chú trọng vào vốn xã hội và chuẩn chủ quan.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất Nghiên cứu này kế thừa từ nghiên cứu nêu trên của Chen, nhưng được kiểm chứng tại Việt Nam.
So với Việt Nam, Đài Loan có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn, hai nền văn hóa khác nhau, nghiên cứu được thực hiện năm 2012, đến nay đã qua năm năm (2017), cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin cũng như nền kinh tế tri thức, nên những kết quả từ nghiên cứu trước có thể sẽ khác đi khi thực hiện tại Việt Nam.