Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân" do nghiên cứu sinh Hà Thị Hạt thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Huệ, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2023), thuộc chuyên ngành Tâm lý học (Mã số: 9 31 04 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, đã trở thành không gian giao tiếp và chia sẻ thông tin phổ biến. Dẫn chứng số liệu từ công trình của Trần Hữu Luyến và cộng sự [23], luận án nêu rõ 99% sinh viên Việt Nam sử dụng mạng xã hội, trong đó Facebook chiếm tỷ lệ cao nhất với 86,6%. Nền tảng này tạo môi trường thuận lợi để người dùng bộc lộ cái tôi, chia sẻ cảm xúc và quan điểm. Tuy nhiên, bên cạnh các biểu hiện tích cực, thực tế xuất hiện tình trạng lạm dụng không gian ảo để thể hiện bản thân theo hướng lệch chuẩn, tiêu cực nhằm thu hút sự chú ý hoặc "câu like".
Sinh viên sư phạm là đối tượng đào tạo để trở thành nhà giáo trong tương lai, đòi hỏi chuẩn mực cao về đạo đức, lối sống, kỹ năng nghề nghiệp và cách ứng xử xã hội. Việc hình thành thái độ đúng đắn đối với việc thể hiện bản thân trên không gian mạng là yêu cầu quan trọng đối với nhóm khách thể này. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận việc sử dụng mạng xã hội nói chung hoặc sự tự bộc lộ bản thân của giới trẻ; chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân của những sinh viên sư phạm khác tại Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực trạng thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hướng sinh viên sư phạm tới lối sống lành mạnh, có thái độ đúng đắn, tích cực đối với việc thể hiện bản thân trên các phương tiện truyền thông nói chung và Facebook cá nhân nói riêng.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân.
- Xây dựng cơ sở lý luận về thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của họ; từ đó đề xuất một số kiến nghị thực tiễn.
Giả thuyết khoa học
- Đa số sinh viên sư phạm được khảo sát đều có thái độ đúng đắn, tích cực ở mức trung bình đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân.
- Thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân được biểu hiện qua ba mặt: nhận thức, cảm xúc, hành vi. Trong đó, thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân biểu hiện ở mặt nhận thức ít đúng đắn nhất.
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân. Trong đó, yếu tố "Mong muốn giải tỏa cảm xúc cá nhân" là yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất và yếu tố "Mong muốn thu hút sự chú ý của mọi người" là yếu tố có ảnh hưởng ít nhất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ biểu hiện thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu biểu hiện thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân của những sinh viên sư phạm khác thông qua 3 mặt: nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với 5 khía cạnh thể hiện bản thân (Hình ảnh cá nhân; Cảm xúc cá nhân; Thành tích cá nhân; Quan điểm chính trị/tôn giáo; Những vấn đề trong đời sống xã hội). Đồng thời khảo sát 4 yếu tố ảnh hưởng gồm: Mong muốn thu hút sự chú ý của mọi người; Mong muốn giải tỏa cảm xúc cá nhân; Mong muốn được nêu quan điểm cá nhân; Mong muốn "câu like".
- Phạm vi khách thể: Khảo sát định lượng trên 535 sinh viên sư phạm; phỏng vấn sâu 20 sinh viên sư phạm và 5 giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; nghiên cứu 3 trường hợp điển hình.
- Phạm vi địa bàn: 3 cơ sở đào tạo gồm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Sư phạm – Đại học Hạ Long và Đại học Sư phạm – Đại học Huế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý luận và thực nghiệm được điểm lại
Luận án tiến hành tổng quan tài liệu nghiên cứu theo các trục nội dung chính:
CÁC HƯỚNG TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Hướng nghiên cứu về thái độ Hướng nghiên cứu về sự thể hiện Nghiên cứu về thái độ của SVSP
- Tâm lý học cá nhân & chức năng: bản thân trên mạng xã hội / Facebook với việc thể hiện trên Facebook
Allport (1935), Thomas & - Bản sắc & tự bộc lộ: Klein (2001), - Mối liên hệ thái độ & bộc lộ:
Znaniecki (1918), La Piere (1934), Schouten (2007), Valkenburg et al. Chen & Sharma (2015),
Katz (1960), Miaxisev, Lomov... (2005), Boyd (2007), Hayes (2008)... Van Gool et al. (2015)...
- Cấu trúc 3 thành phần (ABC): - Khía cạnh tâm lý & lệch chuẩn: - Thể hiện thái quá & nghề nghiệp:
M. Smith (1942), Fishbein & APA (2012), Gil-Or et al. (2015), Garner & O'Sullivan (2010),
Ajzen (1975), Eagly & Chaiken... Aslam et al. (2013), Twenge / Choi... Nguyễn Thị Huệ et al. (2015)...
- Phương pháp đo lường thái độ: - Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Minh - Nhận diện khoảng trống:
Bogardus, Thurstone & Chave, Hòa (2010), Nguyễn Thị Hậu (2010), Chưa có công trình chuyên sâu
Likert (1932), Jones & Sigall... Minh Hương (2013), Trần Hữu Luyến... về SVSP tại Việt Nam.
-
Các nghiên cứu về thái độ của cá nhân:
- Bản chất và chức năng của thái độ: Gordon Allport (1935) [37] định nghĩa thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh, có ảnh hưởng định hướng hoặc động lực đến phản ứng của cá nhân. W.I. Thomas và F. Znaniecki (1918) [110] nghiên cứu thái độ như sự định hướng chủ quan gắn với giá trị xã hội và chức năng thích nghi. R. La Piere [76] phát hiện "nghịch lý La Piere" về sự không nhất quán giữa thái độ và hành động thực tế. D. Katz (1960) [73] xác lập 4 chức năng của thái độ: hiểu biết, điều chỉnh quan hệ xã hội, diễn đạt giá trị, và bảo vệ cái tôi (ego-defense). Thuyết hành động hợp lý (TRA) và thuyết hành vi dự định (TPB) của Fishbein và Ajzen [58] mô hình hóa mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, chuẩn mực chủ quan và ý định hành vi.
- Học thuyết tâm lý học Liên Xô và Việt Nam: V. Miaxisev [7] phát triển học thuyết thái độ nhân cách; B. Lomov [3] nhấn mạnh thái độ chủ quan hình thành từ vị trí xã hội; D. Uznatze và V. Iadov nghiên cứu thuyết tâm thế xã hội. Tại Việt Nam, Phạm Minh Hạc [7, 8, 9], Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn [30], Vũ Dũng [5, 6], Đào Thị Oanh [25], Lê Văn Hảo [11], Nguyễn Thị Thúy Hường [17], Cao Xuân Hải [10] đã nghiên cứu thái độ như thuộc tính nhân cách gắn với hoạt động và giao tiếp.
- Cấu trúc của thái độ: Mô hình ba thành phần (nhận thức – cảm xúc – hành vi/hành động) được khởi xướng bởi M. Smith (1942), hoàn thiện qua các nghiên cứu của Krech, Crutchfield & Ballachey, Breckler [46], McGuire [87], Eagly & Chaiken [54], và Schiffman & Kanuk (2004) [19].
- Phương pháp đo lường: Thang đo khoảng cách xã hội 7 mức của Bogardus [44], thang đo 11 mức khoảng cách bằng nhau của Thurstone và Chave (1929) [112], thang đo tổng cộng của Likert (1932) [82], kỹ thuật "đường ống giả vờ" (Bogus Pipeline) của Edward Jones và Harold Sigall (1971) [69], thang đo thái độ nhận thức và cảm xúc của Petty và Fabrigar [98].
-
Các nghiên cứu về sự thể hiện bản thân trên mạng xã hội và Facebook:
- Nghiên cứu quốc tế: Klein (2001) [75] phân tích sự định hình bản sắc qua trang cá nhân; Báo cáo của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ APA (2012) chỉ ra xu hướng kiểm soát hình ảnh cá nhân trên mạng xã hội; Gil-Or và cộng sự (2015) [95] nghiên cứu sự sai lệch cái tôi trên Facebook; Garner và O’Sullivan (2010) [61] chỉ ra ảnh hưởng của thông tin mạng xã hội đến tính chuyên môn của sinh viên y khoa; Schouten (2007) và Valkenburg, Schouten, Peter (2005) [115] phân tích động cơ tự bộc lộ để bù đắp sự nhút nhát và tìm kiếm phản hồi; Aslam và cộng sự (2013) [39] nghiên cứu các biểu hiện nghiện Facebook; Hayes (2008) [64] và Boyd (2007) [45] phân tích đặc tính không gian ảo trong xây dựng bản sắc thanh thiếu niên; Choi (2010) [50] dẫn nghiên cứu của Jean Twenge về tính ái kỷ và tự quảng bá; Balagué và Fayon (2010) [23] đưa ra khái niệm "bản sắc số".
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Minh Hòa (2010) [15], Nguyễn Thị Hậu (2010) [12], Minh Hương (2013) [16], Đào Lê Hòa An [1], Trần Hữu Luyến và cộng sự (2015) [23] nghiên cứu thực trạng sử dụng mạng xã hội của sinh viên.
-
Nghiên cứu về thái độ đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook:
- Chen và Sharma (2015) [47] chứng minh thái độ tích cực thúc đẩy mức độ bộc lộ thông tin; Van Gool và cộng sự (2015) [116] xem thái độ là yếu tố dự báo hành vi tự thể hiện; Manago và Melton (2020) [85] phân tích thái độ của sinh viên đại học Hoa Kỳ đối với việc bộc lộ quan điểm chính trị, tôn giáo, cảm xúc và thành tích cá nhân; Nguyễn Thị Huệ và cộng sự (2015) [18] khảo sát thái độ của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội đối với việc thể hiện bản thân thái quá trên Facebook.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án kế thừa mô hình cấu trúc 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi) và các kỹ thuật đo lường thang Likert, đồng thời giải quyết khoảng trống: chưa có công trình nào khảo sát toàn diện thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân (cụ thể là thái độ trước sự thể hiện của bạn học cùng ngành sư phạm) theo 5 khía cạnh nội dung và 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng trong bối cảnh giáo dục đại học tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Các phương pháp tiếp cận:
- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp Tâm lý học (chủ đạo) với Giáo dục học, Đạo đức học, Văn hóa học, Xã hội học và Luật học.
- Tiếp cận hoạt động – nhân cách: Dựa trên nguyên lý tâm lý học Mác-xít coi hoạt động và giao tiếp là phương thức hình thành, bộc lộ thái độ và nhân cách.
- Tiếp cận hệ thống: Xem xét thái độ trong mối quan hệ đa chiều giữa các thành tố tâm lý bên trong và các yếu tố môi trường xã hội, văn hóa, nhóm xã hội.
- Khái niệm thao tác: Thái độ là sự phản ứng của chủ thể với một đối tượng nào đó (người, sự vật, hiện tượng...) thông qua nhận thức, cảm xúc và hành vi của chính chủ thể đó.
- Cấu trúc thái độ trong nghiên cứu: Luận án áp dụng mô hình ba thành phần dựa trên quan điểm của Schiffman & Kanuk (2004) gồm:
- Mặt nhận thức: Sự hiểu biết, quan điểm, đánh giá của sinh viên sư phạm về sự thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân.
- Mặt cảm xúc: Sự rung động, mức độ đồng cảm, hài lòng, không hài lòng, thích hoặc không thích trước các hành vi thể hiện trên mạng.
- Mặt hành vi: Cách ứng xử cụ thể (tương tác, bình luận, chia sẻ, tán thành hoặc phản đối) và xu hướng hành động của sinh viên.
- Nội dung 5 khía cạnh thể hiện bản thân: 1) Hình ảnh cá nhân; 2) Cảm xúc cá nhân; 3) Thành tích cá nhân; 4) Quan điểm chính trị/tôn giáo; 5) Những vấn đề trong đời sống xã hội.
- Khung 4 yếu tố ảnh hưởng: 1) Mong muốn thu hút sự chú ý của mọi người; 2) Mong muốn giải tỏa cảm xúc cá nhân; 3) Mong muốn được nêu quan điểm cá nhân; 4) Mong muốn "câu like".
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Phân tích, tổng hợp các công trình lý luận và thực nghiệm trong và ngoài nước.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia tâm lý học, giáo dục học để thẩm định nội dung bảng hỏi và khung tiêu chí đánh giá.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi các hình thức biểu hiện và tương tác của sinh viên trên Facebook cá nhân.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu hỏi đo lường theo thang Likert. Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha và kiểm định phân tích tương quan.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn định tính với 20 sinh viên sư phạm và 5 giảng viên tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội để làm rõ động cơ và căn nguyên tâm lý.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình và mô tả chân dung: Phân tích chi tiết 3 trường hợp sinh viên sư phạm đại diện cho các xu hướng thái độ khác nhau (Phạm Thị..., Nguyễn Thu..., Lê Minh...).
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm thống kê (tính điểm trung bình $M$, độ lệch chuẩn $SD$, kiểm định độ tin cậy Alpha, phân tích tương quan Pearson, so sánh các tham số nhân khẩu học).
Nguồn tư liệu và mẫu khảo sát
| Nhóm khách thể |
Đơn vị khảo sát |
Số lượng ($N$) |
Phương pháp thu thập |
| Sinh viên sư phạm |
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội |
245 |
Điều tra bảng hỏi |
| Sinh viên sư phạm |
Khoa Sư phạm – Trường Đại học Hạ Long |
238 |
Điều tra bảng hỏi |
| Sinh viên sư phạm |
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế |
52 |
Điều tra bảng hỏi |
| Tổng mẫu khảo sát định lượng |
3 cơ sở đào tạo |
535 |
Bảng hỏi chuẩn hóa |
| Sinh viên sư phạm |
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội |
20 |
Phỏng vấn sâu |
| Giảng viên |
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội |
5 |
Phỏng vấn sâu |
| Trường hợp điển hình |
Sinh viên đại diện các nhóm thái độ |
3 |
Mô tả chân dung tâm lý |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thái độ từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân loại các nhánh nghiên cứu lý thuyết: chức năng thái độ (Allport, Katz, La Piere), cấu trúc thái độ (Smith, Fishbein & Ajzen, Schiffman & Kanuk), sự hình thành và thay đổi thái độ (Bandura, Triadis), cùng các phương pháp đo lường tâm lý (Bogardus, Thurstone, Likert, Jones & Sigall). Đồng thời, chương này tổng thuật các công trình nghiên cứu về hành vi tự thể hiện trên mạng xã hội tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam, từ đó xác lập luận cứ về tính cấp thiết và định vị đề tài nghiên cứu đối với nhóm khách thể đặc thù là sinh viên ngành sư phạm.
Chương 2: Cơ sở lý luận về thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân
Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm công cụ và khung lý luận cho luận án:
- Phân tích 7 đặc điểm cơ bản của thái độ: tính hệ thống, tính phân cực, tính mức độ, tính bền vững tương đối, tính nổi trội, tính ý thức, và tính chi phối.
- Làm rõ đặc điểm tâm lý, hoạt động nghề nghiệp của sinh viên sư phạm và yêu cầu chuẩn mực nhân cách của nhà giáo.
- Xác lập khái niệm "Thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân": là sự phản ứng mang tính đánh giá, lựa chọn của sinh viên sư phạm đối với việc bộc lộ hình ảnh, cảm xúc, quan điểm, thành tích của người khác trên mạng xã hội Facebook.
- Cụ thể hóa cấu trúc thái độ thành 3 mặt (nhận thức, cảm xúc, hành vi) qua 5 khía cạnh thể hiện bản thân và 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng tâm lý (thu hút sự chú ý, giải tỏa cảm xúc, nêu quan điểm, câu like).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu qua 2 giai đoạn (nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn); giới thiệu đặc điểm địa bàn và mẫu khách thể (535 sinh viên thuộc 3 trường đại học); mô tả chi tiết quy trình thiết kế và chuẩn hóa bảng hỏi; trình bày kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo (hệ số Cronbach's Alpha của các tiểu thang đo nhận thức, cảm xúc, hành vi và các yếu tố ảnh hưởng đều đạt chuẩn thống kê); thiết lập quy trình phỏng vấn sâu 25 khách thể (20 sinh viên, 5 giảng viên) và phác đồ mô tả chân dung 3 trường hợp điển hình; quy định các công thức và quy trình thống kê toán học áp dụng trong phân tích dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân
Chương 4 công bố và thảo luận các kết quả khảo sát thực nghiệm:
- Thực trạng chung: Đa số sinh viên sư phạm có thái độ đúng đắn, tích cực đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân ở mức trung bình.
- Mức độ biểu hiện theo 3 mặt: Có sự không đồng nhất giữa ba thành phần thái độ. Trong đó, mức độ đúng đắn ở mặt nhận thức đạt điểm số thấp nhất so với mặt cảm xúc và mặt hành vi (khẳng định giả thuyết 2).
- Mức độ biểu hiện qua 5 khía cạnh: Phân tích chi tiết thái độ của sinh viên đối với việc thể hiện hình ảnh cá nhân, cảm xúc cá nhân, thành tích cá nhân, quan điểm chính trị/tôn giáo và những vấn đề đời sống xã hội trên cả 3 mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi.
- Tương quan giữa các thành phần: Xác định mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức, cảm xúc và hành vi của sinh viên sư phạm trong việc thể hiện thái độ trên không gian mạng.
- So sánh theo các tham số nhân khẩu học: Phân tích sự khác biệt về thái độ xét theo 6 tham số: giới tính, trường đại học đào tạo, năm học (từ năm thứ nhất đến năm cuối), học lực của sinh viên, số năm tham gia sử dụng Facebook, và thời lượng sử dụng Facebook trung bình trong một ngày.
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng: Kiểm định mức độ tác động của 4 yếu tố tâm lý; kết quả chỉ ra yếu tố "Mong muốn giải tỏa cảm xúc cá nhân" có mức độ ảnh hưởng cao nhất, trong khi "Mong muốn thu hút sự chú ý của mọi người" có mức độ ảnh hưởng thấp nhất (khẳng định giả thuyết 3).
- Phân tích trường hợp điển hình: Trình bày chân dung tâm lý và hành vi thực tế của 3 trường hợp sinh viên (Phạm Thị..., Nguyễn Thu..., Lê Minh...) đại diện cho các nhóm mức độ thái độ khác nhau.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận của Tâm lý học chuyên ngành về thái độ đối với việc thể hiện bản thân trong môi trường truyền thông số và không gian mạng xã hội.
- Xây dựng và thao tác hóa thành công khái niệm "Thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân".
- Xác lập khung cấu trúc và hệ thống tiêu chí đánh giá thái độ gồm 3 mặt (nhận thức, cảm xúc, hành vi) qua 5 khía cạnh thể hiện nội dung và 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng, đóng góp một bộ công cụ khảo sát định lượng có độ tin cậy cho nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng về thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân: xác nhận đa số sinh viên đạt mức độ đúng đắn, tích cực ở mức trung bình; chỉ ra sự thiếu đồng nhất giữa các mặt biểu hiện, trong đó mặt nhận thức còn nhiều hạn chế và ít đúng đắn nhất.
- Xác định rõ thứ tự mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng: nhu cầu giải tỏa cảm xúc là động lực chi phối mạnh nhất, tiếp đến là nhu cầu nêu quan điểm và câu like, trong khi nhu cầu thu hút sự chú ý có ảnh hưởng thấp nhất.
- Chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thái độ theo các biến nhân khẩu học (giới tính, trường đào tạo, năm học, kết quả học lực, kinh nghiệm và thời lượng sử dụng mạng xã hội).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các trường đại học sư phạm: Tăng cường công tác quản lý và định hướng văn hóa học đường trên không gian mạng; tổ chức các chuyên đề giáo dục kỹ năng sử dụng mạng xã hội và kỹ năng quản trị bản sắc số cho sinh viên sư phạm gắn với chuẩn mực nghề nghiệp nhà giáo.
- Đối với tổ chức Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên: Đổi mới phương thức tập hợp sinh viên, xây dựng các diễn đàn và phong trào truyền thông trực tuyến lành mạnh nhằm tạo môi trường chia sẻ cảm xúc, trao đổi học thuật tích cực.
- Đối với giảng viên: Tích hợp nội dung giáo dục thái độ và chuẩn mực ứng xử số vào các học phần tâm lý học, giáo dục học và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Đối với sinh viên sư phạm: Nâng cao tính tự ý thức, kiểm soát hành vi đăng tải và tương tác trên Facebook cá nhân phù hợp với tư cách nhà giáo tương lai; nhận thức rõ tác động của việc bộc lộ thông tin cá nhân trên mạng xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Khách thể khảo sát giới hạn ở 535 sinh viên tại 3 trường đại học (Hà Nội, Quảng Ninh/Hạ Long, Huế), chưa bao quát toàn bộ các cơ sở đào tạo sư phạm trên toàn quốc.
- Phương pháp phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp điển hình mới chỉ thực hiện tập trung tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Nghiên cứu tập trung vào thái độ đối với hành vi thể hiện bản thân trên nền tảng mạng xã hội Facebook của những sinh viên khác, chưa khảo sát sâu trên các nền tảng mạng xã hội mới nổi khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô mẫu và địa bàn khảo sát đến các trường sư phạm khu vực miền Nam và Tây Nguyên.
- Nghiên cứu đối sánh giữa thái độ đối với việc thể hiện bản thân của người khác và hành vi tự thể hiện của chính bản thân sinh viên.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các nền tảng truyền thông đa phương tiện khác như TikTok, Instagram, YouTube.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Tâm lý học và Giáo dục học: Tham khảo khung lý thuyết cấu trúc thái độ 3 thành phần, quy trình chuẩn hóa thang đo Likert, kỹ thuật kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích tương quan trong tâm lý học thực nghiệm.
- Ban Giám hiệu, cán bộ quản lý đào tạo và công tác chính trị sinh viên tại các trường sư phạm: Sử dụng kết quả thực trạng để xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội và hoạch định chương trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp.
- Tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên: Tham khảo các chỉ báo về nhu cầu giải tỏa cảm xúc và thói quen sử dụng mạng xã hội để thiết kế hoạt động hỗ trợ tâm lý và sân chơi ngoại khóa phù hợp.
- Phần đáng tham khảo: Thang đo thái độ 3 mặt biểu hiện qua 5 khía cạnh nội dung (Chương 2, Chương 3) và hệ thống dữ liệu so sánh sai biệt nhân khẩu học (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân qua những khía cạnh cụ thể nào?
Luận án khảo sát thái độ của sinh viên thông qua 5 khía cạnh nội dung thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân, bao gồm:
- Hình ảnh cá nhân.
- Cảm xúc cá nhân.
- Thành tích cá nhân.
- Quan điểm chính trị/tôn giáo.
- Những vấn đề trong đời sống xã hội.
2. Cấu trúc thái độ của sinh viên sư phạm được xác định gồm những thành phần nào?
Dựa trên mô hình ba thành phần (Schiffman & Kanuk, 2004; Smith, 1942), luận án xác định cấu trúc thái độ gồm 3 mặt có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:
- Mặt nhận thức: Sự hiểu biết, quan điểm và đánh giá của sinh viên.
- Mặt cảm xúc: Sự rung động, mức độ đồng cảm, hài lòng hoặc không hài lòng.
- Mặt hành vi: Phản ứng ứng xử thực tế và xu hướng hành động tương tác trên không gian mạng.
3. Trong 4 yếu tố ảnh hưởng được nghiên cứu, yếu tố nào tác động nhiều nhất và ít nhất đến thái độ của sinh viên?
Kết quả kiểm định thực nghiệm tại Chương 4 xác nhận:
- Yếu tố có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất là: Mong muốn giải tỏa cảm xúc cá nhân.
- Yếu tố có mức độ ảnh hưởng ít nhất là: Mong muốn thu hút sự chú ý của mọi người.
4. Quy mô và phân bổ mẫu khách thể khảo sát thực trạng của luận án được tổ chức ra sao?
Luận án tiến hành khảo sát trên tổng số 535 sinh viên sư phạm tại 3 trường đại học, cụ thể:
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: 245 sinh viên.
- Khoa Sư phạm – Đại học Hạ Long: 238 sinh viên.
- Đại học Sư phạm – Đại học Huế: 52 sinh viên.
Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 20 sinh viên và 5 giảng viên tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đồng thời phân tích 3 trường hợp nghiên cứu điển hình.
5. Kết quả nghiên cứu thực tiễn đã chỉ ra hạn chế nổi bật nào trong thái độ của sinh viên sư phạm?
Kết quả khảo sát thực tế cho thấy thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân không có sự đồng nhất giữa các mặt biểu hiện. Trong đó, biểu hiện ở mặt nhận thức là ít đúng đắn nhất, cho thấy sinh viên còn lúng túng hoặc chưa nhận thức đầy đủ về ranh giới chuẩn mực, mục đích và hậu quả của việc bộc lộ thông tin trên không gian ảo.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Thị Hạt đã giải quyết có hệ thống vấn đề thái độ của sinh viên sư phạm đối với việc thể hiện bản thân trên Facebook cá nhân từ giác độ Tâm lý học. Bằng việc kết hợp các tiếp cận liên ngành, hoạt động – nhân cách và tiếp cận hệ thống, công trình đã xây dựng khung lý luận 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi) qua 5 khía cạnh thể hiện và kiểm chứng trên mẫu khảo sát 535 sinh viên thuộc 3 cơ sở đào tạo. Kết quả nghiên cứu khẳng định đa số sinh viên có thái độ đúng đắn, tích cực ở mức trung bình, trong đó mặt nhận thức bộc lộ ít đúng đắn nhất và yếu tố giải tỏa cảm xúc giữ vai trò chi phối mạnh nhất. Luận án cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ công tác định hướng chuẩn mực văn hóa ứng xử số và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành sư phạm.