MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Thái độ bàng quan xã hội là một hiện tượng tâm lý học, được bắt đầu nghiên cứu từ câu chuyện về cô gái Kitty Genovese năm 1964. Genovese bị một kẻ quá khích đuôi theo, hành hung ba lần trên phố trước khi bị đâm chết.
Sự việc được những người hàng xóm của cô chứng kiến nhưng không ai gọi điện cầu cứu cảnh sát [41]. Điều này đã đặt ra câu hỏi cho các nhà tâm lý học về cách ứng xử của con người khi chứng kiến người khác gặp khó khăn. Tại sao chúng ta có thể bỏ qua một người đang cần hỗ trợ? Việt Nam nỗi tiếng với những giá trị được hình thành và rèn luyện từ lịch sử như lòng nhân ái, sự tương trợ sẻ chia “lá lành đùm lá rách”. Đó là những giá trị tỉnh thần tốt đẹp được giữ gìn và nâng niu qua hàng ngàn thế hệ.
Nhiều tắm gương hi sinh bản thân mình vì người khác. Ví dụ, em Nguyễn Văn Tiến 17 tuổi ở Phú Thọ không sợ nguy hiểm lao vào cứu bạn bị điện giật để trở thành người tật nguyền suốt đời [32]; em Nguyễn Cảnh Thế 13 tuổi ở Nghệ An, mặc dù chân trái bị gãy còn đang đóng đỉnh nhưng van bơi ra dong nước xoáy dé cứu một em nhỏ [33]. Day là một vài trong hàng triệu tắm gương âm thầm vì hạnh phúc của người xung quanh. Bên cạnh những người sẵn sàng vì người khác, tồn tại những ánh mắt, cách cư xử thờ ơ trước lời kêu cứu thậm chí là sự soi mói tò mò, lợi dụng tình huống nhằm mang lợi cho cá nhân.
Nhiều quan điểm lý giải nguyên nhân của hiện tượng trên là do sự thay đổi của xã hội làm đứt gãy hệ giá trị vốn có; lỗi sống đô thị đã làm con người trở lên lạnh lùng độc ác, cá nhân tự chiu trách nhiệm và tránh xa tất cả những gì không liên quan. Vì người khác quên mình hay thờ ơ nhìn nỗi đau của họ là vấn đề khiến các nhà tâm lý học quan tâm. Nó đã tao ra một trào lưu nghiên cứu dé tìm hiểu ban chất sự việc. Hơn nửa thế kỷ vừa qua, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới đi tìm câu trả lời cho hiện tượng này.
Một vài nghiên cứu đưa ra bằng chứng thuyết phục từ những giả thuyết khác nhau như: yếu tố đám đông, giới tính, văn hóa, tâm trạng, năng lực. Ở Việt Nam nghiên cứu vé thái độ bàng quan còn khá mới mẻ, chúng tôi chưa tìm thay một nghiên cứu khoa hoc nao cho hiện tượng này. Xuất phát từ thực tế xã hội Việt Nam, sự thiếu vắng các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, chúng tôi muốn tìm hiểu những yếu tô nào có liên quan đến thái độ bàng quan của con người hiện nay dưới góc độ của tâm lý học. Đề tài sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về sự thờ ơ thiếu quan tâm, đồng thời tìm ra những gợi ý biện pháp góp phần giảm sự thờ ơ của con người đối với đồng loại.
Mục đích nghiên cứu Luận văn nghiên cứu các yêu tố ảnh hưởng đến thái độ bang quan với người gặp khó khăn và bước đầu đưa ra những khuyến nghị dé tăng cường thái độ hợp tác, hỗ trợ trong xã hội. Nhiệm vụ nghiên cứu Xây dựng khái niệm, cơ sở lý luận của thái độ bàng quan xã hội. Điều tra khảo sát thực tiễn thái độ bàng quan xã hội. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu Thái độ bàng quan của người dân khi chứng kiến người khác rơi vào sự cố cần có được trợ giup.2 Khách thé nghiên cứu Nghiên cứu trên sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội và người dân địa ban Hà Nội.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5.1 Nghiên cứu tập trung lý giải thái độ không trợ giúp của cộng đồng với người gặp khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Thái độ bàng quan thờ ơ về chính trị, tôn giáo, pháp luật. không thuộc phạm vi nghiên cứu nay.2 Nghiên cứu trên sinh viên của trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, đại học Nông Nghiệp Hà Nội và người dân có mặt tại địa điểm nghiên cứu.3 Nghiên cứu tập trung tại các địa điểm trên địa bàn Hà Nội: Bến xe bus, bến xe khách Gia Lâm, Giáp Bát, Mỹ Đình, bờ hồ Hoàn Kiếm, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Giả thuyết nghiên cứu Tâm trạng không thoải mái, cảm giác thiếu an toàn, sợ ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân và thiếu khả năng giúp đỡ là những nguyên nhân dẫn đến thái độ bàng quan của người dân trong xã hội.
Phương pháp nghiên cứu. e Nghiên cứu tài liệu e Điều tra bảng hỏi e Phỏng vấn trường hợp e Thực nghiệm e Phân tích diễn đàn CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA THÁI ĐỘ BANG QUAN XA HOI 1. Tổng quan nghiên cứu về sự bang quan xã hội 1. Một số hướng nghiên cứu về thái độ bàng quan xã hội Khi tìm hiêu vê dé tài chúng tôi thay các nghiên cứu chính thức vê sự bang quan xã hội không có nhiêu.
Nhưng có những bài việt, chứng cứ lý giải con người ngày nay bàng quan với các vấn đề xung quanh, tập trung vào các hướng sau: Hướng nghiên cứu bàng quan với pháp luật Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Lam (2010) chỉ ra nguyên nhân khiến pháp luật không được quan tâm như: tâm lý người dân cho rằng ra pháp luật là điều gì ghê gớm, nghiêm trong, ton hại thanh danh; ra pháp luật là hạ sách cuối cùng, moi người vẫn thích tự giải quyết với nhau hơn; việc tuyên truyền và phô biến pháp luật không có, nếu có thì hình thức, au tri và nhàm chán; luật pháp được xây dựng chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân mà chỉ đảm bảo hệ thống pháp luật đủ cho xã hội; tòa án áp dụng pháp luật đôi khi không được công minh là những nguyên nhân dẫn đến người dân ác cảm và thờ ơ với pháp luật [43]. Kết quả khảo sát ý kiến của người dân về thái độ tiêu cực của cán bộ công chức khi tiếp xúc với người dân cho thấy có 60% người trả lời “không quan tâm”. Tác giả Phạm Phụng Tường (2004) lý giải “đây không phải là điều khó hiểu mặc dù đó là nỗi khổ của người dân. Bởi vì người dân luôn gặp thái độ tiêu cực khi tiếp xúc với cán bộ công chức.
Ý kiến phản hồi của họ không được giải quyết triệt để, cán bộ công chức chưa coi người dân là đối tác khi đến với cơ quan nhà nước [44]. Hướng nghiên cứu bàng quan với văn hóa truyền thống Lịch sử ghi lại truyền thống văn hóa của dân tộc. Hiểu về lịch sử giúp cá nhân tham gia giữ gìn bảo tồn văn hóa truyền thong. Không biết lịch sử cũng là một hình thức bàng quan với văn hóa truyền thống.
Một nghiên cứu thực hiện với 1.800 người tham gia trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả như sau: có 40,75% không biết sự kiện lịch sử hoặc lai lịch nhân vật lịch sử của con đường minh đang sống; 43% cho rằng Việt Nam có 100 dân tộc khác nhau; 23% ké sai hoặc không ké được tên một danh nhân văn hóa hoặc danh tướng trong lịch sử; 60% ké sai hoặc không kế được một di tích lịch sử văn hóa cũng như di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn thành phố [46]. Bang quan với văn hóa dân tộc còn thé hiện qua sự thờ ơ với các lễ hội phong tục truyền thống, âm nhạc dân tộc; qua việc không thích nói tiếng dân tộc, không thích mặc trang phục dân tộc thậm chí không thích nghề truyền thống. Ông Hoàng Trung Thuấn lý giải: "Nguyên nhân là do các cơ quan văn hóa, ban tổ chức lễ hội truyền thống, tổ chức ngày lễ lớn còn mang nặng tính chất hình thức mà chưa chú trọng đến phần hội. Nếu không tổ chức các trò chơi đề các bạn trẻ được chơi và vui theo đúng nghĩa thì giới trẻ quay lưng là dé hiểu" [47].
Ông Vũ Quốc Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam nhận xét “Nhiều lớp dạy nghề mở ra còn không thu hút được cả học viên nên khó khăn dé giữ được chân lao động ở lại với nghé” [47]. Nguyên nhân của tình trạng trên được nhiều người lý giải là do thiếu sự quan tâm giáo dục trong gia đình, nhà trường về văn hóa truyền thống. Các chương trình văn hóa truyền thống mang tính chất hình thức không hấp dẫn. Hướng nghiên cứu bàng quan với bảo vệ môi trường Môi trường tự nhiên là sự sống của nhân loại.
Ô nhiễm môi trường là thực trạng báo động trên toàn thế giới. Con người đã và đang chung tay hành động bảo vệ môi trường sông của chúng ta. Tuy nhiên vẫn tồn tại tâm lý cho răng môi trường là của chung, nên ý thức bảo vệ môi trường chưa được nâng cao. Một số nhà máy, xí nghiệp thiếu công nghệ xử lý rác thải đã gây bệnh tật cho người dân.
Lý giải sự bàng quan của con người với việc bảo vệ môi trường. Tác giả Huỳnh Học Bá (2012) cho răng: “Người dân tỏ ra thờ ơ thiếu tỉnh thân hợp tác với Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường mà đặc biệt là các bạn trẻ. Nhiéu nguoi nghĩ việc mình lam là quá nhỏ, không du dé làm hại môi trường. Một số người khác lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, chính quyên mà không phải là của mình.
Do đó người dân thiếu trách nhiệm trong bảo vệ môi trường, thậm chí còn tham gia huy hoại như chặt phá rừng, khai thác tài nguyên 10 bừa bai” [48]. Một nguyên nhân khác là sự thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Họ thờ ơ với các hoạt động bảo vệ môi trường hoặc tham gia mang tính hình thức. Tiêu biéu chương trình “Mỗi doanh nhân - Một cam kết" do CLB Giám đốc Điều hành Việt Nam (Vietnam CEO Club), phát động nhằm hưởng ứng sự kiện "Giờ Trái đất 2012", chỉ có 4 doanh nghiệp tham gia trong 60 thư mời được gửi đi [42].
Nghiên cứu về thái độ bàng quan với người gap khó khăn. Cái chết của Kitty Genovese đã thu hút sự chú ý của các nhà tâm lý học nhằm mục đích lý giải và tìm ra nguyên nhân thờ ơ của cộng đồng với người bị nạn. Các nhà tâm lý học gia định rang, sự thờ ơ của những người hàng xóm là một trong số vô vàn những thay đôi ở đô thị lớn.