Chương 1 C ơ SỞ LÝ L U Ậ N 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu về thái độ 1. Ớ phương Tây Hai nhà tâm lý học đầu tiên nghiên cứu về thái độ là W.
Hai ông đã tiến hành nghiên cứu thái độ của những người nông dân Ba Lan di cư sang Mỹ, thông qua sự thích ứng của họ trưóc những thay đổi của môi trường sống cũng rihư sự thay đổi của các giá trị. Họ đã đưa ra nhận định: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị nào đó. Từ công trình khởi đầu này, nhiều nghiên cứu về thái độ đã bùng nổ.Sikhirev, nhà tàm lý học xã hội Liên Xô(cũ) đã chia lịch sử nghiên cứu thái độ ở phương Tây ra làm ba thời kỳ chính(5:174,175): - Thời kỳ th ứ nhất bắt đầu từ năm 1918 đến Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ớ giai đoạn này, các công trinh nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ của nó với hành vi.
Công trình nghiên cứu thực nghiệm gây chú ý trong giai đoạn này là sự phát hiện ra “nghịch lý La Piere”, biểu thị sự không nhất quán giữa phản ứng bằng lời nói tỏ thái độ và hành vi. - Thời kỳ thứ hai kéo dài từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối những năm 1950. Thời kỳ này, các nghicn cứu về thái độ tập trung chủ yếu tìm hiểu, lý giải những hoài nghi về vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi. Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan như do chiến tranh, do bế tắc trong việc ]ý giải các nghịch lý nảy sinh trong quá trình nghiên cứu, nên số lượng các công trình nghicn cứu về thái độ ở thời kỳ này có sự giảm sút một cách đáng kể.
Tuy nhiên, trong giai đoạn nghiên cứu này cũng đã nổi lên những tên tuổi như R. - Thời kỳ th ứ ba (ừ cuối những năm 1950 đến nay. Có thể nói đây là thời kỳ bùng nổ của những nghicn cứu về thái độ ở phương Tây. Trong tâm lý học LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 xã hội vấn ítc thái độ có một vị trí xứng đáng.
Vấn đề thường được đé cập trong các nghiên cứu ở giai đoạn này là những quan niệm mới về định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó. Cũng ở thời kỳ này, nhiều thuyết đã được hình thành làm cơ sở lý luận đê lý giải quan hệ như thuyết bất đồng nhận thức giữa thái độ và hành vi(Leon Festinger), thuyết “tự thê hiện”, thuyết tự tri giác(Parye Beny); các phương pháp nghiên cứu sự hình thành và thay đổi thái độ như: thang đo thái độ(The F scale - thang đo F) đo các quan điểm phátxít, thang đo quan điểm giáo điều(The Dogmatism Scale); phương pháp đo thái độ gián tiếp qua các chỉ số sinh lý như phương pháp điện cơ mặt và các kỹ thuật nghiên cứu thái độ như kỹ thuật “Đường ống giả vờ”( the bogus pipeline) hay kỷ thuật lấn từng bước(foot in the door) v. Nhìn chung, xu thế trong các nghiên cứu về thái độ ở phương Tây là nhằm giải quyết những vấn đề trong thực tiễn như: vận động tranh cử, bầu cử, tiếp thị, tuyên truyền, bảo vệ môi trường, chữa bệnh v. cũng như việc nghiên cứu các dạng thái độ đã định hình sẵn để có thể dự báo hành vi của cá nhân khi họ vấp phải các trở ngại, khó khăn.
Ở Liên Xô trước đây Vấn đề thái độ được nghiên cứu khá sớm ở Liên Xô. Người đầu tiên đặt ra vấn đề thái độ khi nghiên cứu tính cách là A. Ông nêu ra quan niệm về thái độ trong các nghiên cứu như: Bài viết về năng lực (1909); Công trình nghiên cứu nhân cách trong quan hệ với môi trường (1912); Phân loại nhân cách (1917 - 1924); Bút ký khoa học về tính cách (1916). Theo ông, thái độ là khía cạnh quan trọng của nhân cách (13:489).
Tiếp theo đó, dựa trcn các nghiên cứu của A. Lazuski và lập trường của tâm lý học mácxít, V.Miasixev (1892 - 1973) đã xây dựng “Học thuyết thái độ nhàn cách”. Trong học thuyết này, ông không chỉ nghiên cứu khái niệm, phân loại thái độ mà còn đưa ra thông số đo thúi độ với các chỉ số khác nhau, đồng thời khẳng định cư sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người là phán xạ có điều kiện. Ông là một trong những người đặt nền móng cho tâm lý học thái độ theo quan điểm mác xít.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Thuyết “tâm thế xã hội ” của D. Uznadze cũng đã góp phần tích cực vào việc nghiên cứu thái độ của các nhà tâm lý học Liên Xô. Theo Uznadze, thái độ (tâm thế) là trạng thái vô thức xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và hoàn cảnh thoả mãn nhu cầu, quy định xu hướng biểu hiện của tâm lý và hành vi của con người, giúp con người thích ứng với điều kiện bên ngoài. Từ đây, có thể khẳng định tâm thế xã hội là một yếu tố hình thành hành vi xã hội của nhân cách, được thể hiện dưới hình thức thái độ của nhân cách với các điều kiện hoạt động của nó.
Chính cách tiếp cận, xem xét khái niệm tâm thế theo D. Uznadze đã giúp cho việc xác định nghiên cứu tâm thế xã hội - thái độ trong tâm lý học xã hội ở Liên Xô trước đây được đặt trong bối cảnh khả quan. Trong những năm cuối của thế kỷ XX, khi nghiên cứu nhân cách như là một phạm trù cơ bản của tâm lý học, B. Lomov đã đề cập đến khái niệm thái độ chủ quan của nhân cách.
Khái niệm này gần giống như các khái niệm “tâm thể”, “ý cá nhân”, “attitude”. Thái độ chủ quan có tính chất nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động. Thái độ chủ quan tuy là thuộc tính tương đối ổn định, phản ánh lập trường của cá nhân với hiện thực khách quan nhưng cũng có thay đổi. Sự thay đổi vị trí khách quan của mỗi cá nhân trong xã hội đòi hỏi phải có sự đổi mới thái độ chủ quan của nó.
Cơ sở khoa học của thái độ chủ quan là các quan hệ xã hội, phương thức hình thành là thông qua hoạt động và giao tiếp. Một số nghiên cứu về thái độ đã được các nhà tâm lý học Liên Xô tiến hành dưới dạng thực nghiệm như: (5:174). - Sự tác động qua lại của thái độ của các cá nhân trong nhóm, nhân cách và tập thể (L. - Mối quan hệ giữa trẻ em và người lớn(M.) - Thái độ đối với việc học tập và các môn học (A.) - Thái độ đối với nghề nghiệp và lao động(N.
Như vậy,\với cách tiê'p cận hoạt động và nhân cách trong các nghiên cứu thái độ, các nhà tâm lí học Licn Xô đã đưa ra các lí giải tương đối hợp lí về sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thành thái độ trong cấu trúc nhân cách, về chức năng thái độ trong điều chỉnh hành vi xã hội và hoạt động cá nhân. Ở Việt Nam Những năm gần đây, vấn đề thái độ được quan tâm nghiên cứu nhiều. Các nghiên cứu này phẩn lớn dựa trên hệ thống lí luận về thái độ của tâm lí học Liên Xô. Có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu mang tính thực tiễn như: - Nghiên cứu thái độ học tập của Thanh niên đại học An ninh nhân dân - Nguyễn Đức Hưởng(Luận văn Thạc sĩ tâm lí hoc ; 1998).
- Nghiên cứu sự tự đánh giá phù hợp về thái độ hoc toán của sinh viên Cao đẳng sư phạm Hà Nội - Đào Lan Hương( Luận án Tiến sĩ Tâm lí học; 1999 ). - Thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên Cao đắng sư phạm mầm non Thanh Hoá - Nguyễn Thị Hoa(Luận văn Thạc sĩ íâm lí học; 1999). - Những điều kiện tâm lí - sư phạm của việc hình thành thái độ trách nhiệm ở học sinh thiếu niên trong hoạt động học tập và hoạt động ngoài giờ lên lớp - Nghiêm Thị Phiến( Luận án Tiến sĩ Tâm lí học; 2001). - Thái độ học tập của cán bộ Trường đào tạo cán bộ thương mại TW - Nguyễn Thu Hà( Luận văn Thạc sĩ Tam lí học; 2002).
-Thái độ đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Học viện ngân hàng TPHCM - Lê Thị Linh Trang(Luận văn Thạc sĩ Tâm lí học;2002). - Thái độ của sinh viên Trường đại học Luật đối với vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên - Chu Liên Anh(Luận văn Thạc sĩ Tâm lí học; 2003). - Thái độ của thanh niên trước tình trạng baọ lực đối với phụ nữ trong gia dinh - Lý Thị Minh Hằng(Luận văn Thạc sĩ Tâm lí học; 2003). - Thái độ của thanh niên sinh viên với vấn đề phòng chống ma tuý hiện nay - Lê Thu Hà(Luận văn Thạc sĩ Tâm lí học; 2004).
- Thái độ học tập của sinh viên Trường Đại học sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Lc Ngọc Phương(luận văn Thạc sĩ Tâm lí học; 2005). - Thái độ kỳ thị của cán bộ làm công tác tuycn truycn đối với những người nhiễm HIV/A1DS - Đỗ Thị Thanh Hà(Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học; 2005). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Ngoài ra còn nhiều luận văn, luận án tâm ií học cũng nghicn cứu về thái độ. Các tác giả này đã đóng góp đáng kể cho mảng đề tài về thái độ nói chung cũng như sự phong phú về đối tượng.
Tuy vậy, phần lớn các nghiên cứu này mới chí dừng lại ở quy mô nhỏ dưới dạng các luận án, luận văn và tập trung chủ yếu vào thái độ của học sinh, sinh vicn mà thôi. Lịch sử nghiên cứu về BLPNGĐ.Trẽn thê giới Vấn đề BLPNGĐ bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1975, khi được coi như một vấn đề ưu tiên cần xem xét. Gần ba thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tình trạng phụ nữ bị bạo lực trong gia đình ngày càng tăng. Hầu hết các nghiên cứu này dựa trên sự phân tích số liệu từ các phòng cấp cứu bệnh viện hoặc sử dụng các kỹ thuật phân tích định tính để xem xét nguy cơ và bản chất của loại bạo lực này.
Cụ thể là một số nghiên cứu sau (Theo 7:9): - Smith(Canađa;1987) điều tra ngẫu nhiên qua điện thoại phát hiện thấy trong số 604 phụ nữ độ tuổi 18->50 đã có chồng, có 36,4% bị hành hạ về thể chất. - Schei và Bakketeig(Na Uy; 1989) điều tra 150 phu nữ từ 20 đến 49 tuổi ở Trondheim thì có 25% bị chồng hành hạ về thể xác và tình dục.