Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành. Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ những người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già, đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương.
Đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng lập các quỹ tương tế, các hội đoàn. Đồng thời, đòi hỏi giới chủ và nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ. Đầu của thế kỷ XIX, những manh nha về ASXH đã xuất hiện với việc chính phủ Anh công bố “Luật cứu tế mới” (1834). Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật.
Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến những năm 80 của thế kỷ XIX, ASXH đã mở ra hướng mới. Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, thời điểm này các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Các dịch vụ xã hội như y tế, dự phòng tai nạn, dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, trẻ em…được mở rộng ở các nước theo điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau. Mĩ là quốc gia ban hành luật đầu tiên trên thế giới về ASXH và cũng đưa ra khái niệm này từ năm 1935: “ASXH là sự đảm bảo của xã hội nhằm bảo tồn nhân cách cùng các giá trị của các cá nhân đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tốc độ” [32; tr.
Thuật ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn ASXH được chính thức sử dụng. Đến bản Tuyên ngôn Nhân quyền do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948 đã viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…”. Tuy nhiên, phải đến ngày 25/6/1952, thuật ngữ ASXH mới được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) sử dụng chính thức trong Công ước số 102.
Theo đó:“An sinh xã hội là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất giữa mọi thành viên xã hội vì vấn đề công bằng xã hội và dựa trên nguyên tắc liên kết” [96; tr. Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Chẳng hạn theo quan điểm của ILO, khái niệm ASXH được đưa ra với hai phạm vi rộng và hẹp. Ở phạm vi rộng: “ASXH là sự đảm bảo thực hiện quyền con người được sống trong hoà bình, tự do làm ăn, cư trú, được bảo vệ trước pháp luật, được làm việc và nghỉ ngơi, được chăm sóc y tế và bảo đảm thu nhập” [96; tr.
Ở phạm vi hẹp: “ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khó về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong, sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả các khoản tiền trợ giúp cho các gia đình đông con” [96; tr. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “An sinh xã hội là tổng hợp các biện pháp nhằm bảo vệ hoặc tăng cường nguồn lực trợ giúp cho con người, gia đình và cộng đồng chống lại những khó khăn một cách tốt hơn khi gặp những rủi ro” [95; tr. WB đưa ra cách tiếp cận khái niệm và xây dựng mô hình an sinh xã hội mới mẻ, đó là dựa trên khái niệm “quản lí rủi ro”. WB cũng xác định rất rõ nguồn tài chính và cơ chế quản lí rủi ro với vai trò quan trọng của nhà nước, gia đình, cộng đồng, các tổ chức quốc tế, phi chính phủ và cả những thiết chế của thị trường (ngân hàng, công ti bảo hiểm.
Trên thế giới, quan điểm của WB được coi là quan điểm tiến bộ và rất nhiều quốc gia vận dụng, đặc biệt là các quốc gia chịu chi phối nhiều bởi tổ chức này. Bên cạnh WB, một số các tổ chức kinh tế quốc tế khác cũng tiếp cận khái niệm ASXH từ góc độ kinh tế. Chẳng hạn, theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn ASXH là “sự bảo vệ con người khi không còn khả năng tạo ra thu nhập” [97; tr. Hay Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) định nghĩa ASXH:“Là tập hợp các chính sách và chương trình nhằm giảm nghèo đói, lệ thuộc bằng việc thúc đẩy thị trường lao động tích cực, giảm rủi ro và tăng cường năng lực tự bảo vệ của người lao động chống lại sự giảm hoặc mất thu nhập” [94; tr.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCDE): “An sinh xã hội chính là cách thức, phương thức phối hợp các nguồn lực đối phó với các rủi ro xã hội” [98]. Nhìn chung, khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các tổ chức, các quốc gia. Vì vậy, nhấn mạnh đến tính đa dạng và phạm vi nội dung khác nhau của khái niệm này ở các quốc gia, ILO cũng xác định rõ:“An sinh xã hội ở các quốc gia khác nhau là khác nhau song về cơ bản an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình. Thuật ngữ ASXH đã xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 70 của thế kỷ XX trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của học giả Sài Gòn.
Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều và đặc biệt là từ năm 1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn. Cuốn Thuật ngữ An sinh xã hội Việt Nam xuất bản năm 2011, định nghĩa: ASXH là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội/trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định hoặc của tư nhân) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội [78; tr. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, khái niệm ASXH nên được nghiên cứu trong phạm vi hẹp như sau: An sinh xã hội là mạng lưới các chương trình, hệ thống chính sách cụ thể từ nhà nước hoặc các tổ chức xã hội nhằm trợ giúp, hỗ trợ, bảo vệ cá nhân và toàn xã hội, đặc biệt là các cá nhân gặp phải rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, bảo đảm mức sống tối thiểu và góp phần nâng cao đời sống của họ, từ đó, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Về chính sách an sinh xã hội Trong cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới năm 2020, tác giả Vũ Văn Phúc đã cho rằng: “Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội” [67; tr.
Chính sách an sinh xã hội được hiểu là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa. Đây là hệ thống chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội [28; tr. Chính sách ASXH có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của mỗi quốc gia bởi những vấn đề của ASXH liên quan đến quyền lợi và sự phát triển của con người. Việc đảm bảo ASXH luôn được các nhà nước coi là một nhiệm vụ trọng tâm để tạo sự ổn định của xã hội.
Chính vì thế, các quốc gia luôn đặt “chính sách ASXH được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và phù hợp với khả năng của nền kinh tế” [67; tr. Những nội dung cốt lõi của an sinh xã hội Xu hướng chung của các nước trên thế giới ngày nay là lựa chọn mô hình hệ thống ASXH hoàn chỉnh và hiệu quả, kết hợp đề cao trách nhiệm của cá nhân, cộng đồng và nhà nước. Đó là một hệ thống ASXH đa tầng, linh hoạt và có thể hỗ trợ lẫn nhau, bảo đảm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục được các rủi ro cho mọi người. Ở Việt Nam, hệ thống ASXH gồm các trụ cột chính: - Các chế độ BHXH, BHYT bắt buộc theo luật định hiện nay ở nước ta bao gồm: Bảo hiểm xã hội bắt buộc (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất), bảo hiểm xã hội tự nguyện (hưu trí, tử tuất), bảo hiểm hưu trí bổ sung do Chính phủ quy định, bảo hiểm y tế bắt buộc.