Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong sự phát triển của ngôn ngữ học hiện đại, ngôn ngữ học tri nhận (NNHTN) ra đời và khẳng định vị thế quan trọng khi giải thích các hiện tượng ngôn ngữ dựa trên kinh nghiệm và phương thức ý niệm hóa thế giới của con người. Trong khuôn khổ lý thuyết này, ẩn dụ tri nhận (ADTN - Conceptual Metaphor) không chỉ dừng lại ở một biện pháp tu từ mang tính trang sức của ngôn từ mà được xác định là một cơ chế tư duy nền tảng định hình nhận thức và hành động. Tại Việt Nam, việc vận dụng lý thuyết ẩn dụ tri nhận vào nghiên cứu văn học đã đạt được nhiều thành tựu qua các khảo sát về ca dao, tục ngữ, truyện ngắn và phong trào Thơ mới. Tuy nhiên, mảng thơ đương đại Việt Nam – với sự xuất hiện của đội ngũ tác giả trẻ mang phong cách biểu đạt mới mẻ – vẫn chưa nhận được sự khảo sát có hệ thống dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận.

Nhận diện khoảng trống học thuật này, tác giả Nguyễn Phương Duyên đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ học tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2023) dưới sự hướng dẫn của TS. Tăng Thị Tuyết Mai, nhằm nghiên cứu có hệ thống các mô hình ADTN trong thơ đương đại Việt Nam qua ba miền đích then chốt: THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng các luận điểm của lý thuyết ẩn dụ tri nhận để phân tích các tác phẩm thơ ca đương đại, từ đó làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa. Để hiện thực hóa mục đích này, khóa luận đặt ra 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu cùng các ý kiến, quan điểm về đối tượng khảo sát.
  2. Khảo sát, phân loại và thống kê số lượng các biểu thức ADTN xoay quanh ba miền đích: THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU.
  3. Xác lập các mô hình ẩn dụ cấu trúc (ADCT) và ẩn dụ bản thể (ADBT) trong thơ đương đại Việt Nam qua ngữ liệu của các tác giả được lựa chọn.
  4. Phân tích cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích dựa trên các thuộc tính tương đồng, đồng thời giải thích các mô hình tri nhận để chỉ ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiện tượng ẩn dụ tri nhận qua ba miền đích trừu tượng THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI, TÌNH YÊU cùng cơ sở ý niệm hóa và cơ chế tạo thành của chúng. Phạm vi ngữ liệu được giới hạn trong các sáng tác của 5 nhà thơ tiêu biểu thuộc nền văn học đương đại Việt Nam: Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thiên Ngân và Nguyễn Phong Việt. Tổng dung lượng ngữ liệu được khảo sát và xử lý là 1.379 biểu thức ẩn dụ thu thập từ các tập thơ đã xuất bản, các tác phẩm công bố trên chuyên trang thivien.net và trang Facebook cá nhân của các tác giả. Về phân loại, khóa luận tập trung chuyên sâu vào hai loại hình ẩn dụ phổ biến nhất trong ngữ liệu là ẩn dụ cấu trúc (11 mô hình) và ẩn dụ bản thể (11 mô hình), lược bỏ ẩn dụ định vị do tần suất xuất hiện không đủ để khái quát thành mô hình tri nhận độc lập.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận thông qua việc đối sánh các cách tiếp cận ẩn dụ từ truyền thống đến hiện đại:

  • Quan điểm truyền thống về ẩn dụ: Tác giả hệ thống hóa ba quan điểm kinh điển:
    • Quan điểm thay thế (Substitution view) của Max Black (1955): Ẩn dụ là việc dùng biểu thức ẩn dụ để thay thế cho một biểu thức mang nghĩa đen tương đương.
    • Quan điểm so sánh (Comparison view) của R. Whately (1861) và Max Black (1955): Ẩn dụ bản chất là một phép so sánh rút gọn (tỉ dụ ngầm ẩn).
    • Quan điểm tương tác (Interaction view) của Max Black (1955): Ẩn dụ là sự tương tác giữa hai ý niệm (chủ thể chính và chủ thể phụ) thông qua hệ thống liên tưởng phổ biến (system of associated commonplaces), tạo ra ý nghĩa mới.
  • Khung lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận: Khóa luận kế thừa các công trình nền tảng của George Lakoff và Mark Johnson (Metaphors We Live By, 1980), Lakoff và Mark Turner (More than Cool Reason, 1989), Mark Turner (The Literary Mind, 1996), Zoltán Kövecses (Metaphor: A Practical Introduction, 2010), cùng các nghiên cứu tại Việt Nam của Lý Toàn Thắng (1984, 2005, 2008), Phan Thế Hưng (2007, 2008, 2009) và Hà Thanh Hải (2007).
  • Các khái niệm then chốt:
    • Ý niệm (Concept) và sự ý niệm hóa (Conceptualization): Phân biệt rõ "ý niệm" (đơn vị của ý thức, gắn liền văn hóa và nhận thức dân tộc) với "khái niệm" (đơn vị của tư duy logic trừu tượng mang tính phổ quát nhân loại).
    • Phạm trù và sự phạm trù hóa (Categorization): Quá trình phân loại sự vật hiện tượng dựa trên nguyên mẫu (prototype) và ranh giới mờ (fuzzy boundaries).
    • Cấu trúc và cơ chế ánh xạ: ADTN là sự phóng chiếu cấu trúc từ miền nguồn (Source domain - cụ thể, cảm giác được) sang miền đích (Target domain - trừu tượng, khó định hình).
    • Cơ chế tạo lập ẩn dụ văn chương: Vận dụng 4 cơ chế của Lakoff & Turner (1989) gồm: mở rộng (extending), chi tiết hóa (elaborating), đặt vấn đề (questioning) và phối trộn (composing).
Tiêu chí Khái niệm Ý niệm
Đơn vị thuộc về Tư duy logic trừu tượng Ý thức và hoạt động tri nhận
Phương thức phản ánh Thuộc tính bản chất khách quan của sự vật Kinh nghiệm, trải nghiệm và văn hóa của chủ thể
Phạm vi tính chất Mang tính nhân loại phổ quát Vừa mang tính nhân loại phổ quát vừa mang tính đặc thù dân tộc
Biểu hiện ngôn ngữ Từ ngữ mang nghĩa biểu vật, biểu niệm cố định Đa dạng: từ ngữ, cụm từ, câu, hoặc phi ngôn từ

Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận triển khai hai nhóm phương pháp chuyên ngành:

  1. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: Sử dụng thủ pháp phân tích ánh xạ và thủ pháp phân tích ý niệm để mô tả các đặc trưng ngữ nghĩa của biểu thức ngôn ngữ, tái lập mô hình tri nhận và luận giải căn nguyên văn hóa - tư duy của các nhà thơ.
  2. Phương pháp thống kê ngôn ngữ: Sử dụng thủ pháp phân loại, hệ thống hóa và so sánh để định lượng số lượng bài thơ, câu thơ, tần suất xuất hiện của các miền nguồn/miền đích và các thuộc tính ánh xạ, tạo cơ sở thực chứng khách quan cho các nhận định định tính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương này trình bày tổng quan lịch sử nghiên cứu và hệ thống hóa khung lý thuyết nền tảng. Tác giả chỉ ra bước chuyển hệ hình từ việc coi ẩn dụ là một biện pháp tu từ đơn thuần sang việc nhận diện ẩn dụ như một phương thức tư duy cấu trúc hóa trải nghiệm của con người. Khóa luận phân định ranh giới giữa ẩn dụ tri nhận (cách nghĩ, viết hoa: ví dụ TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH) và biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ (cách nói cụ thể trong văn bản).

Về mặt phân loại, tác giả trình bày 4 tiêu chí phân loại ADTN theo Z. Kövecses (2010): theo tính quy ước (conventionality), theo tính chất (nature - kiến thức cơ bản và lược đồ hình ảnh), theo mức độ khái quát (generality) và theo chức năng (function - ADCT, ADBT, ẩn dụ định vị). Tiếp đó, chương 1 phác thảo diện mạo thơ đương đại Việt Nam sau năm 1975 và sau năm 2000, khẳng định các nhà thơ đương đại như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thiên Ngân, Nguyễn Phong Việt đã mang đến tư duy nghệ thuật hiện đại, phá vỡ các khuôn mẫu ước lệ truyền thống và tạo ra nguồn ngữ liệu ẩn dụ phong phú.

Chương 2: Ẩn dụ cấu trúc trong thơ đương đại Việt Nam

Chương 2 tiến hành xác lập và phân tích chi tiết 11 mô hình Ẩn dụ cấu trúc (ADCT) xoay quanh ba miền đích, làm rõ cơ chế ánh xạ các thuộc tính từ miền nguồn sang miền đích:

  • Miền đích THỜI GIAN (02 mô hình):
    • THỜI GIAN LÀ SỰ CHUYỂN ĐỘNG: Thời gian được cấu trúc hóa thông qua sự chuyển động tương đối. Tác giả khảo sát hai mô hình tri nhận: Thời gian chuyển động lấy chủ thể đứng yên làm trung tâm (thời gian trôi qua trước mặt hoặc đuổi theo con người) và Chủ thể chuyển động trong tương quan với thời gian đứng yên (con người di chuyển xuyên qua các mốc thời gian).
    • THỜI GIAN LÀ THỰC VẬT: Ánh xạ các đặc tính sinh trưởng của cây cỏ (nảy mầm, đơm hoa, úa tàn, rụng lá) để biểu đạt sự sinh sôi, chín muồi hoặc lụi tàn của thời gian và tuổi trẻ.
  • Miền đích CUỘC ĐỜI (04 mô hình):
    • CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH: Miền nguồn cuộc hành trình phóng chiếu người đi hành trình $\rightarrow$ con người, chặng đường $\rightarrow$ các giai đoạn đời người, chướng ngại vật $\rightarrow$ trắc trở gian nan, đích đến $\rightarrow$ mục tiêu lý tưởng sống.
    • CUỘC ĐỜI LÀ THỰC VẬT: Phản ánh chu kỳ sinh học của đời người từ lúc non nớt gieo mầm đến giai đoạn trổ bông và héo úa.
    • CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG: Tương ứng giữa dòng chảy uốn lượn, ghềnh thác, độ nông sâu của sông nước với sự trôi nổi, bấp bênh và thăng trầm của kiếp người.
    • CUỘC ĐỜI LÀ VỞ KỊCH: Con người đóng vai trò diễn viên mang mặt nạ, trải qua các hồi kịch, bi kịch, đối diện với sự giả tạo và định mệnh sắp đặt.
  • Miền đích TÌNH YÊU (05 mô hình):
    • TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH: Đôi lứa là bạn đồng hành, biến cố tình cảm là ngã rẽ hay đoạn đường gập ghềnh, chia tay là sự đứt gánh giữa đường.
    • TÌNH YÊU LÀ THỰC VẬT: Quá trình ươm mầm cảm xúc, nở hoa hạnh phúc và sự tàn phai khi tình cảm rạn nứt.
    • TÌNH YÊU LÀ TRÒ CHƠI: Các thuộc tính may rủi, thắng thua, đặt cược, ăn gian được ánh xạ vào tâm lý được - mất trong tình yêu.
    • TÌNH YÊU LÀ VỞ KỊCH: Sự đóng vai, ảo mộng, bi kịch sân khấu hóa của mối quan hệ lứa đôi.
    • TÌNH YÊU LÀ LỬA: Sự bùng cháy của đam mê, khát khao mãnh liệt cùng nguy cơ thiêu rụi, để lại tàn tro đau đớn.

Chương 3: Ẩn dụ bản thể trong thơ đương đại Việt Nam

Chương 3 khảo sát 11 mô hình Ẩn dụ bản thể (ADBT) – loại ẩn dụ biến các hiện tượng, cảm xúc, ý niệm trừu tượng thành những thực thể vật chất, vật chứa hoặc nhân cách hóa cụ thể để con người có thể tri giác, định lượng và thao tác:

  • Miền đích THỜI GIAN (05 mô hình):
    • THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ: Thời gian được nhìn nhận có hình khối, sức nặng, có thể cầm nắm, cắt gọt, đánh rơi hoặc vỡ vụn.
    • THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI: Thời gian được nhân hóa, mang hành động, tâm tư, sự tàn nhẫn, dửng dưng hoặc vội vã.
    • THỜI GIAN LÀ VẬT CHỨA: Không gian thời gian (ngày, đêm, năm tháng) là vật chứa đựng con người, ký ức và những nỗi niềm u uất.
    • THỜI GIAN LÀ CHẤT LỎNG: Thời gian chảy tràn, nhỏ giọt, ngập ứ hoặc hòa tan tâm trạng.
    • THỜI GIAN LÀ NGUỒN TÀI NGUYÊN: Thời gian là thứ quý giá có thể tiêu tốn, vay mượn, cạn kiệt, lãng phí hoặc tích lũy.
  • Miền đích CUỘC ĐỜI (03 mô hình):
    • CUỘC ĐỜI LÀ CON NGƯỜI: Cuộc đời có tính cách, biết bao dung, cay nghiệt, biết từ chối, bỏ rơi, dạy dỗ hoặc lãng quên con người.
    • CUỘC ĐỜI LÀ VẬT CHỨA: Cuộc đời như một ngôi nhà, căn phòng, góc tối chật hẹp chứa đầy những biến cố, giông bão và sự cô đơn.
    • CUỘC ĐỜI LÀ VẬT THỂ: Cuộc đời bị đứt quãng, gãy vụn, bị đem khâm liệm, bị bẻ cong hoặc gói gọn lại.
  • Miền đích TÌNH YÊU (03 mô hình):
    • TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ: Tình yêu là đồ vật mong manh, có thể vỡ nát, sứt mẻ, bị vứt bỏ, đánh mất hoặc buộc chặt.
    • TÌNH YÊU LÀ CON NGƯỜI: Tình yêu biết khóc, biết đau đớn, biết gõ cửa, có sức mạnh chế ngự và biến con người thành nô lệ.
    • TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỮA: Tình yêu là không gian/vật thể có thể bước vào, trú ngụ, hoặc chứa đựng hạnh phúc lẫn khổ đau.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện hệ thống 22 mô hình ẩn dụ tri nhận xuất hiện trong 1.379 biểu thức ngôn ngữ được trích xuất từ tác phẩm của 5 nhà thơ đương đại:

Miền đích Ẩn dụ cấu trúc (ADCT) - Chương 2 Ẩn dụ bản thể (ADBT) - Chương 3
THỜI GIAN 1. THỜI GIAN LÀ SỰ CHUYỂN ĐỘNG
2. THỜI GIAN LÀ THỰC VẬT
1. THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ
2. THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI
3. THỜI GIAN LÀ VẬT CHỨA
4. THỜI GIAN LÀ CHẤT LỎNG
5. THỜI GIAN LÀ NGUỒN TÀI NGUYÊN
CUỘC ĐỜI 1. CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
2. CUỘC ĐỜI LÀ THỰC VẬT
3. CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG
4. CUỘC ĐỜI LÀ VỞ KỊCH
1. CUỘC ĐỜI LÀ CON NGƯỜI
2. CUỘC ĐỜI LÀ VẬT CHỨA
3. CUỘC ĐỜI LÀ VẬT THỂ
TÌNH YÊU 1. TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
2. TÌNH YÊU LÀ THỰC VẬT
3. TÌNH YÊU LÀ TRÒ CHƠI
4. TÌNH YÊU LÀ VỞ KỊCH
5. TÌNH YÊU LÀ LỬA
1. TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ
2. TÌNH YÊU LÀ CON NGƯỜI
3. TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA

Đóng góp về mặt lý luận: Khóa luận góp phần khẳng định tính khả dụng và giá trị ứng dụng cao của lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận vào việc giải mã văn bản nghệ thuật tiếng Việt. Công trình cung cấp một khung phân tích hệ thống, nhất quán từ lý thuyết ánh xạ, mô hình hóa miền nguồn - miền đích đến việc phân loại chi tiết các biểu thức ẩn dụ trong thơ ca.

Đóng góp về mặt thực tiễn: Khóa luận là công trình khảo sát chuyên sâu đầu tiên áp dụng lý thuyết ADTN trên một khối lượng ngữ liệu quy mô (1.379 ngữ liệu) thuộc về 5 tác giả tiêu biểu của thơ đương đại Việt Nam. Bằng việc so sánh cách thức ý niệm hóa giữa các tác giả đương đại với nhau và giữa thơ đương đại với phong trào Thơ mới (1932–1945), nghiên cứu đã chỉ ra:

  • Dấu ấn cá nhân độc đáo của từng tác giả (sự táo bạo, khát khao bản năng của Vi Thùy Linh; sự sâu lắng, chiêm nghiệm nỗi buồn đô thị của Nguyễn Phong Việt; nét nhẹ nhàng, tình cảm của Nguyễn Thiên Ngân; tư duy phá cách của Ly Hoàng Ly và Nguyễn Thế Hoàng Linh).
  • Sự chuyển biến trong tâm thức nghệ thuật: Thơ đương đại có xu hướng cụ thể hóa tối đa các ý niệm trừu tượng thông qua các hình ảnh đời thường, phi ước lệ, phản ánh sâu sắc trải nghiệm của con người trong xã hội hiện đại.
  • Hệ thống 9 phụ lục thống kê chi tiết cung cấp nguồn ngữ liệu thực chứng có giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ học và thi pháp học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận chỉ tập trung khảo sát hai nhóm ẩn dụ chính là ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể, chưa đi sâu phân tích nhóm ẩn dụ định vị do số lượng ngữ liệu tìm thấy còn hạn chế. Phạm vi ngữ liệu mới dừng lại ở 5 tác giả đương đại tiêu biểu, chưa thể bao quát toàn bộ gương mặt của nền thơ ca đương đại Việt Nam.
  • Hướng mở nghiên cứu:
    • Mở rộng phạm vi ngữ liệu sang nhiều tác giả thơ đương đại khác, bao gồm cả các thể loại văn xuôi, truyện ngắn, tản văn đương đại.
    • Nghiên cứu bổ sung các miền đích trừu tượng khác như CÔ ĐƠN, NỖI BUỒN, CÁI CHẾT, HẠNH PHÚC.
    • Đi sâu phân tích cơ chế phối trộn ý niệm (Conceptual Blending Theory) và đối sánh xuyên văn hóa giữa thơ đương đại Việt Nam và thơ đương đại thế giới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  1. Sinh viên và học viên cao học ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo cách thức vận dụng khung lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận của Lakoff, Johnson, Turner, Kövecses vào ngữ liệu tiếng Việt; phương pháp phân loại, thống kê và mô hình hóa ánh xạ tri nhận.
  2. Sinh viên và nhà nghiên cứu ngành Văn học/Sư phạm Ngữ văn: Tiếp cận một góc nhìn liên ngành (Ngôn ngữ học - Văn học) để giải mã thi pháp, phong cách nghệ thuật và thế giới quan của các tác giả thơ đương đại Việt Nam.
  3. Hệ thống ngữ liệu: Phần phụ lục (từ Phụ lục 1 đến Phụ lục 9) với 1.379 trích dẫn thơ được gắn mã, phân loại theo từng mô hình ánh xạ là nguồn dữ liệu thực chứng minh bạch, phục vụ đắc lực cho các đề tài nghiên cứu đối chiếu hoặc từ điển thi pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát tác phẩm của những tác giả nào và dung lượng ngữ liệu là bao nhiêu?
Khóa luận khảo sát sáng tác của 5 nhà thơ đương đại Việt Nam gồm: Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thiên Ngân và Nguyễn Phong Việt, với tổng cộng 1.379 biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ được trích xuất từ các tập thơ in, chuyên trang thivien.net và trang Facebook cá nhân của tác giả.

2. Ba miền đích trừu tượng được lựa chọn nghiên cứu trong khóa luận là gì?
Ba miền đích trừu tượng được lựa chọn là THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU.

3. Có bao nhiêu mô hình ẩn dụ tri nhận được xác lập trong khóa luận?
Khóa luận đã xác lập và phân tích tổng cộng 22 mô hình ẩn dụ tri nhận, chia đều thành 11 mô hình Ẩn dụ cấu trúc (ADCT) và 11 mô hình Ẩn dụ bản thể (ADBT).

4. Vì sao khóa luận không đi sâu vào nhóm Ẩn dụ định vị?
Theo tác giả giải trình ở phần Mở đầu, số lượng biểu thức thuộc ẩn dụ định vị xuất hiện trong nguồn ngữ liệu khảo sát rất ít, không đủ tần suất và căn cứ khoa học để khái quát thành các mô hình tri nhận điển hình; do đó đề tài tập trung trọn vẹn vào hai loại hình phổ biến và giàu giá trị biểu đạt nhất là ADCT và ADBT.

5. Bốn cơ chế tạo lập ẩn dụ trong văn chương được tác giả kế thừa từ công trình nào?
Tác giả kế thừa 4 cơ chế tạo lập ẩn dụ thơ ca từ công trình More than Cool Reason: A Field Guide to Poetic Metaphor (1989) của George Lakoff và Mark Turner, bao gồm: cơ chế mở rộng (extending), chi tiết hóa (elaborating), đặt vấn đề (questioning) và phối trộn (composing).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Ẩn dụ tri nhận trong thơ đương đại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Phương Duyên là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có tính hệ thống cao trong lĩnh vực Ngôn ngữ học tri nhận ứng dụng. Bằng việc phân tích 1.379 ngữ liệu thực chứng từ 5 nhà thơ tiêu biểu, công trình đã xác lập thành công 22 mô hình ẩn dụ cấu trúc và bản thể thuộc ba miền đích THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU. Nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ phương thức ý niệm hóa độc đáo, phá cách của thơ ca đương đại Việt Nam mà còn là cầu nối liên ngành hiệu quả giữa ngôn ngữ học, tư duy nhận thức và văn hóa dân tộc.