Chương 1 có khái niệm: iiNgdn hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. ” Ở Việt Nam, dịch vụ ngân hàng được Luật Các TCTD quy định, nhưng không có định nghĩa và giải thích rõ ràng về dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” trong khoản 7, điều 20: “là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán ”.
Theo đó, có thể hiểu hoạt động ngân hàng được chia theo 4 mảng lớn: huy động vốn, tín dụng, thanh toán, ngân quỹ và các hoạt động khác. Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng, các hoạt động sinh lời của ngân hàng ngoài hoạt động cho vay thì được gọi là hoạt động dịch vụ. Quan điểm này phân định rõ hoạt động tín dụng - một hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các NHTM Việt Nam, với hoạt động dịch vụ - một hoạt động mới bắt đầu phát triển ở nước ta. Sự phân định như vậy trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính hiện nay cho phép ngân hàng thực thi chiến lược tập trung đa dạng hóa, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng.
Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng - Dịch vụ ngân hàng có đặc điểm không hiện hữu. Nó không tồn tại dưới dạng vật thể, nó là kết quả của một quá trình chứ không phải là một cái gì cụ thể có thể nhìn thấy, đếm tích trữ và thử trước khi tiêu thụ. - Dịch vụ ngân hàng có tính không ổn định và khó xác định chất lượng. Nó mang tính cá biệt hoá trong cung ứng và tiêu dùng dịch vụ, phụ thuộc vào người cung ứng dịch vụ, người tiêu dùng dịch vụ và thời điểm thực hiện dịch vụ đó.
- Dịch vụ ngân hàng có đặc tính không tách rời giữa quá trình tiêu dùng với quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ. Việc tiêu dùng dịch vụ ngân hàng diễn ra cùng lúc với quá trình cung ứng dịch vụ có sự tham gia trực tiếp của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào khi khách hàng cần tới. Vì vậy, đảm bảo cung ứng dịch vụ ngân hàng ở mọi thời điểm và xem trọng yếu tố khách hàng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là hết sức quan trọng. Kết quả của dịch vụ đều bị ảnh hưởng từ cả hai phía: ngân hàng và khách hàng.
Chính vì vậy để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, ngân hàng còn phải “huấn luyện” cho khách hàng hiểu rõ tính phức tạp của dịch vụ ngân hàng và có thái độ sẵn sàng phối hợp với nhân viên ngân hàng hoàn tất các quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ. - Dịch vụ ngân hàng là những sản phẩm không lưu trữ được. Dịch vụ ngân hàng không thể sản xuất sẵn và lưu kho như các loại sản phẩm thông thường khác. Vì vậy, một sản phẩm ngân hàng không được cung ứng đúng thời điểm sẽ là một sản phẩm “hỏng”.
Đó là lý do tại sao cần phải điều chỉnh đúng nhịp độ cung ứng theo kịp nhịp độ mua như: rút ngắn quy trình xử lý nghiệp vụ, trang bị máy móc hiện đại có khả năng rút ngắn thời gian thực hiện một giao dịch, tăng cường nhân viên cung ứng tại giờ cao điểm, kéo dài thời gian cung ứng 24/24 giờ,. Các loại dịch vụ ngân hàng cơ bản Hoạt động dịch vụ của NHTM tại các nước tiên tiến phát triển rất mạnh mẽ (tỷ lệ thu từ dịch vụ chiếm khoảng 30-50% tổng thu thuần của ngân hàng). Trên thực tế, các NHTM hoạt động kinh doanh trên 3 mảng nghiệp vụ lớn: nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ tín dụng - đầu tư và nghiệp vụ kinh doanh sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Mỗi nghiệp vụ đều có một vị trí và tác dụng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu chung và tổng quát của bất kỳ NHTM nào, đó là đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với hiệu quả cao nhất thông qua các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng mang lại cho khách hàng.
• Dịch vụ huy động vốn: Vốn dùng cho các hoạt động của ngân hàng bao gồm các nguồn vốn sau: Vốn chủ sở hữu, Vốn huy động và Vốn đi vay. Huy động vốn là việc ngân hàng huy động các nguồn tiền nhàn rỗi của các tổ chức và cá nhân làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng của bất kỳ NHTM nào, bao gồm các khoản tiền gửi, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu,. • Dịch vụ cho vay: NHTM thực hiện hoạt động cho vay đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế và cá nhân, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống xã hội.
Hoạt động cho vay bao gồm cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay chiết khấu giấy tờ có giá,. Tùy theo nhu cầu về thời gian vay vốn của khách hàng mà ngân hàng áp dụng các hình thức cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Lãi suất cho vay áp dụng theo nhu cầu trên thị trường hoặc mối quan hệ tín nhiệm lẫn nhau để áp dụng mức lãi suất cho vay phù hợp với từng đối tượng vay. • Dịch vụ thanh toán: các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng trong nước và nước ngoài hầu hết đều được thực hiện qua ngân hàng.
Nhờ việc nắm giữ tài khoản của khách hàng và việc kiểm soát chứng từ thanh 7 toán mà các ngân hàng hoàn toàn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Hiện nay, các NHTM đang sử dụng các dịch vụ thanh toán như: thanh toán séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, hối phiếu,. Đồng thời, ngân hàng còn tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia thanh toán liên ngân hàng trong nước, tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN chấp thuận. • Kinh doanh chứng khoán: các ngân hàng muốn tiến hành kinh doanh chứng khoán phải thực hiện thông qua mô hình công ty con là công ty chứng khoán.
Hiện nay, các ngân hàng lớn đều có thành lập công ty chứng khoán để tiến hành các dịch vụ về chứng khoán cho khách hàng và chính mình. Khách hàng là các cá nhân hay tổ chức muốn đầu tư chứng khoán kiếm lời có thể giao dịch với một công ty chứng khoán nào đó để được cung cấp các dịch vụ có liên quan tới đầu tư chứng khoán, bao gồm dịch vụ môi giới mua bán chứng khoán, tư vấn kinh doanh chứng khoán,. • Dịch vụ ngân hàng điện tử: với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các ngân hàng thường xuyên cập nhật những sản phẩm công nghệ ngân hàng mới, nhằm đảm bảo cung cấp những dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, phong phú, hiện đại, với tiện ích tốt nhất cho khách hàng, cụ thể như: Dịch vụ thẻ, Home banking, Phone banking, Mobile banking, Internet banking. • Các dịch vụ ngân hàng khác: hiện nay các ngân hàng tại Việt Nam đều hoạt động theo hướng đa năng, do đó tùy theo điều kiện thực tế của mình, mỗi ngân hàng có thể cung cấp những dịch vụ khác, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng như: dịch vụ chuyển tiền nhanh (WESTERN UNION), dịch vụ tư vấn và quản lý tài chính, dịch vụ thu và kiểm tiền mặt, dịch vụ quản lý vốn, dịch vụ mua bán nhà qua ngân hàng,.
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm Ngân hàng điện tử tiếng Anh là Electronic Banking, viết tắt là NHĐT. Có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về NHĐT, song nhìn chung thì NHĐT được hiểu là một loại hình thương mại về tài chính ngân hàng có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng. Nói ngắn gọn, Ngân hàng điện tử là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử.
Hay có một khái niệm khác: “Dịch vụ Ngân hàng điện tử là những dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, cho phép khách hàng có thể truy nhập từ xa vào một ngân hàng nhằm thực hiện một số giao dịch với ngân hàng hoặc với các khách hàng khác thông qua các phương tiện thông tin hiện đại mà không cần phải đến quầy giao dịch. Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng điện tử 1. Không cần có sự tiếp xúc trực tiếp (face to face) Khách hàng khi tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ NHĐT không đòi hỏi phải tiếp xúc trực tiếp với nhân viên ngân hàng. Các chủ thể tham gia vào quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ NHĐT được chia thành ba nhóm, gồm: - Ngân hàng cung cấp dịch vụ; - Khách hàng, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan nhà nước; - Các nhà cung cấp dịch vụ mạng trong Internet banking, Mobile banking, Phone banking,.
Tuy nhiên, trước khi thực hiện các giao dịch NHĐT qua mạng Internet, Mobile,., khách hàng bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký ban đầu (thủ tục nhận dạng) tại ngân hàng cung cấp dịch vụ. Các thủ tục nhận dạng cá nhân trong các giao dịch ngân hàng truyền thống và NHĐT đều là các thủ tục cần thiết, là yếu tố đầu tiên để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch tiếp theo. Không phụ thuộc vào địa giới hành chính tự nhiên Việc cung cấp và tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ NHĐT không có sự phân định rõ ràng về biên giới quốc gia. Các chủ thể ở các quốc gia khác nhau tiến hành các giao dịch trong cùng một môi trường hay có thể gọi là thị trường phi biên giới.
Thế giới hoạt động và thực hiện các giao dịch NHĐT không phải là thế giới địa lý hiện tại mà là thế giới mạng, thông qua mạng Internet (thế giới ảo). Thông qua mạng Internet, các khoảng cách địa lý được kéo lại gần hơn.