Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của sinh viên TP.HCM

Phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của sinh viên: nhận thức môi trường, sức khỏe, giá cả, hiệu quả và tính sẵn có.

Chuyên ngành

Kinh Tế Lượng - ML43

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu Luận

2021

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Nhận thức về môi trường và tiêu dùng xanh

Nhận thức về môi trường là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của sinh viên. Khi sinh viên hiểu rõ hơn về các vấn đề môi trường như biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái tài nguyên, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để lựa chọn sản phẩm xanh. Nghiên cứu cho thấy sinh viên có nhận thức cao về môi trường thường có khuynh hướng mua các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Điều này phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa kiến thức môi trường và hành vi tiêu dùng bền vững. Sự tăng cường giáo dục môi trường trong các trường đại học cũng góp phần nâng cao nhận thức này.

1.1. Ảnh hưởng của kiến thức về vấn đề môi trường

Kiến thức về các vấn đề môi trường trở thành nền tảng cho hành vi tiêu dùng xanh. Sinh viên được cung cấp thông tin về tác động tiêu cực của sản phẩm truyền thống sẽ có xu hướng chuyển sang sản phẩm xanh. Các chiến dịch nâng cao nhận thức và chương trình giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ tích cực.

1.2. Vai trò của truyền thông và thông tin môi trường

Truyền thông về lợi ích của tiêu dùng xanh giúp sinh viên nhận thức rõ ràng hơn. Các tờ rơi, bài viết trên mạng xã hội và các sự kiện môi trường là những kênh hiệu quả để nâng cao ý định tiêu dùng xanh trong cộng đồng sinh viên.

II. Nhận thức về sức khỏe và sản phẩm xanh

Nhận thức về sức khỏe là yếu tố thứ hai có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định tiêu dùng xanh. Sinh viên ngày càng quan tâm đến lợi ích sức khỏe của sản phẩm xanh, đặc biệt là các sản phẩm hữu cơ không chứa hóa chất độc hại. Các nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên sẵn sàng chi trả thêm tiền cho tiêu dùng xanh nếu họ tin rằng nó mang lại lợi ích cho sức khỏe cá nhân. Hành vi tiêu dùng bị chi phối bởi quan tâm đến sức khỏe bản thân và gia đình, đây là động lực tự nhiên và mạnh mẽ cho việc chọn sản phẩm an toàn, không gây hại.

2.1. Lợi ích sức khỏe từ sản phẩm xanh

Sản phẩm xanh không chứa các chất hoá học độc hại, giảm thiểu rủi ro bệnh tật. Tiêu dùng xanh giúp sinh viên bảo vệ sức khỏe dài hạn của bản thân. Thực phẩm hữu cơ, mỹ phẩm tự nhiên và các sản phẩm sinh thái là những lựa chọn phổ biến trong nhóm sinh viên có ý định tiêu dùng xanh.

2.2. Mối liên hệ giữa lối sống lành mạnh và tiêu dùng bền vững

Sinh viên quan tâm đến sức khỏe thường áp dụng tiêu dùng xanh như một phần của lối sống lành mạnh. Sự kết hợp giữa ý định tiêu dùng xanh và các thói quen tích cực tạo nên một lối sống toàn diện và bền vững.

III. Giá cả và khả năng tiếp cận sản phẩm xanh

Nhận thức về giá cả là yếu tố thứ ba có ảnh hưởng đáng kể đến ý định tiêu dùng xanh của sinh viên. Sản phẩm xanh thường có giá cao hơn so với sản phẩm thông thường, điều này tạo ra thách thức lớn đối với sinh viên có thu nhập hạn chế. Tuy nhiên, khi sinh viên hiểu được giá trị dài hạn và lợi ích vượt trội của sản phẩm xanh, họ sẽ cân nhắc lại quyết định mua sắm. Tiêu dùng xanh không chỉ là vấn đề về chi phí mà còn là đầu tư vào chất lượng cuộc sống. Giáo dục tài chính và các chương trình hỗ trợ giá giúp tăng cường ý định tiêu dùng xanh trong sinh viên.

3.1. Rào cản giá trong tiêu dùng xanh

Giá cao là rào cản chính ngăn cản sinh viên tiếp cận sản phẩm xanh. Tuy nhiên, các chương trình khuyến mãi, giảm giá và các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt có thể làm giảm rào cản về giá. Sự phát triển của tiêu dùng xanh phụ thuộc vào chiến lược định giá hợp lý.

3.2. Giá trị dài hạn của sản phẩm xanh

Sinh viên cần nhận thức rằng sản phẩm xanh mang lại giá trị dài hạn về sức khỏe và môi trường. Khi hiểu rõ lợi ích của tiêu dùng xanh, sinh viên sẽ sẵn sàng đầu tư thêm tiền cho các sản phẩm chất lượng cao và bền vững.

IV. Tính sẵn có và khả dụng của sản phẩm xanh

Tính sẵn có của sản phẩm xanh là yếu tố thứ tư quyết định ý định tiêu dùng xanh của sinh viên. Dù sinh viên có ý định mua sản phẩm xanh, nhưng nếu các sản phẩm này không dễ tìm thấy hoặc không phân phối rộng rãi, họ sẽ gặp khó khăn. Tiêu dùng xanh phụ thuộc vào sự thuận tiện trong truy cập sản phẩm tại các cửa hàng gần nhất. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng bán lẻ xanh, các cửa hàng chuyên biệt và dịch vụ giao hàng trực tuyến giúp tăng khả dụng của sản phẩm xanh. Khi sản phẩm xanh trở nên dễ tiếp cận hơn, sinh viên sẽ có xu hướng mua sắm nhiều hơn và hành vi tiêu dùng xanh sẽ trở thành thói quen tự nhiên.

4.1. Phân phối và cửa hàng chuyên biệt cho sản phẩm xanh

Cơ sở hạ tầng bán lẻ chuyên biệt cho sản phẩm xanh là điều cần thiết để thúc đẩy tiêu dùng xanh. Các cửa hàng bán sản phẩm hữu cơ, thực phẩm sạch và hàng hóa thân thiện môi trường giúp sinh viên dễ dàng thực hiện ý định tiêu dùng xanh của mình.

4.2. Dịch vụ mua sắm trực tuyến và tiếp cận sản phẩm xanh

Dịch vụ giao hàng trực tuyếnthương mại điện tử xanh mở ra cơ hội mới cho sinh viên tiếp cận sản phẩm xanh. Sự thuận tiện của mua sắm trực tuyến giúp tăng cường ý định tiêu dùng xanh và làm cho hành vi tiêu dùng bền vững trở nên phổ biến hơn.

22/12/2025
Những yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của sinh viên trên địa bàn thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Đề xuất giải pháp Chương 6: Hạn chế và hướng mở rộng nghiên cứu 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số các khái niệm 2. Sản phẩm xanh Hiện nay vẫn chưa co một định nghĩa nào thống nhất cho sản phẩm xanh bởi những tiêu chuẩn để định vị sản phẩm xanh vẫn thay đổi theo xu hướng phát triển và nhận thức của ngươi tiêu dùng. Trên các phương tiện truyền thông, cũng co nhiều cách để định vị các sản phẩm xanh.

Theo Banerjee và Charles, 1992, sau khi kiểm kê 173 bản in quảng cáo cho các sản phẩm xanh được biên soạn trong hơn 5 năm, họ đã phát triển một số kiểu phân loại để phân biệt quảng cáo về sản phẩm xanh dựa trên một số sự hấp dẫn và ấn tượng về sản phẩm được mô tả là “xanh” vì chúng nhấn mạnh các thuộc tính môi trương hoặc thuộc tính sinh thái của sản phẩm. Có thể tổng hợp một số đặc tính chung của sản phẩm xanh như sau:  Được tạo ra từ những vật liệu thân thiện với môi trương: Nếu sản phẩm chứa các vật liệu tái chế, no co thể được xem là một sản phẩm xanh. Ví dụ sản phẩm được tạo ra từ vật liệu phế phẩm nông nghiệp như rơm hoặc dâu nông nghiệp;  Đem đến những giải pháp an toàn đến môi trương và sức khoe thay cho các sản phẩm phẩm độc hại truyền thống: Ví dụ túi ni lông tái chế, bàn chải đánh răng làm từ tre, ống hút làm từ tre, v.;  Giảm tác động đến môi trương trong quá trình sử dụng (ít chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì). Ví dụ sử dụng chai thủy tinh thay chai nhựa vì co thể sử dụng nhiều lân, dễ dàng tái chế;  Sản phẩm tạo ra môi trương thân thiện và an toàn đối với sức khỏe.

Trong phạm vi bài viết này, sản phẩm xanh được hiểu là những sản phẩm co thể tái sử dụng và hạn chế gây ảnh hưởng đến môi trương cũng như sức khỏe cộng đồng so với các sản phẩm cùng loại; co thể thay thế đồ dùng một lân với chức năng bao goi, hỗ 5 trợ cho việc mua sắm và tiêu dùng, bao gồm: túi vải, ống hút inox, ống hút tre, bình đựng nước inox, hộp nhựa dùng nhiều lân, hộp inox, hộp thủy tinh, v. Tiêu dùng xanh Khái niệm tiêu dùng xanh lân đâu tiên được nhắc đến năm 1970 (Peattie, 2010) và từ đo nhiều nghiên cứu đã mở rộng khái niệm này. Tiêu dùng xanh – “green purchasing” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ việc mua sắm các sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trương. Đo là việc xem xét, cân nhắc các vấn đề môi trương đồng thơi với những tiêu chí về giá cả và hiệu quả sử dụng khi quyết định mua sắm, sao cho giảm thiểu nhiều nhất tác động tới sức khỏe con ngươi và môi trương.

Việc cân nhắc này co thể nhằm vào một hay tất cả tác động môi trương bất lợi trong toàn bộ vòng đơi của chúng. Cân hiểu rằng tiêu dùng xanh không phải là “tiêu dùng ít hơn” mà là biết tiêu dùng hiệu quả hơn, tốt hơn và bớt sử dụng tài nguyên hơn. Tiêu dùng xanh gắn trực tiếp với rất nhiều ưu tiên phát triển khác như giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, giáo dục và bảo vệ môi trương. Tất cả các hoạt động tiêu dùng đều nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Vì vậy, tiêu dùng xanh không phải là khuyên tiêu dùng ít đi, mà làm thế nào đáp ứng được nhu câu của ngươi tiêu dùng một cách thông minh hơn. Để giải quyết các vấn đề môi trương, tiêu dùng xanh đã trở thành trọng tâm của ngươi tiêu dùng và doanh nghiệp (Goncalves và cộng sự, 2016; Tariq và cộng sự, 2019). Người tiêu dùng xanh: Ngươi tiêu dùng xanh là ngươi tiêu dùng co ý thức môi trương và họ sẽ cân nhắc những hậu quả về môi trương trong tiêu dùng cá nhân của mình (Webster, 1975). Ở một khía cạnh khác, co thể hiểu ngươi tiêu dùng xanh là ngươi cố gắng sử dụng sức mua của mình để mang lại hiệu quả cải thiện môi trương (Follows và Jobber, 2000).

Đã co rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến tâm quan trọng của giới tre đối với vấn đề môi trương, một số bài nghiên cứu điển hình như các bài nghiên cứu của Ottman và cộng sự, 2006. Tom lại, ngươi tiêu dùng xanh là những ngươi co nhận thức và quan tâm đến các vấn đề sinh thái học và tin rằng, tất cả các sản phẩm và dịch vụ đều co tác động đến môi trương và cân giảm chúng đến mức tối thiểu. Ý định tiêu dùng xanh Ý định hành vi, hay còn được gọi tắt là ý định, là yếu tố đo lương mức độ sẵn lòng của một cá nhân trong việc nỗ lực thực hiện một hành động cụ thể nào đo. Philip Kotler và cộng sự (2001) cho rằng trong giai đoạn đánh giá phương án mua, khách hàng sẽ đánh giá các thương hiệu khác nhau và hình thành nên ý định mua.

Ý định tiêu dùng xanh là khả năng và ý chí của cá nhân trong việc dành sự ưa thích của mình cho các sản phẩm xanh hơn là sản phẩm thương ngày trong việc cân nhắc mua sắm (Rashid, 2009). Vì vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung nghiên cứu về ý định của ngươi tiêu dùng trong việc sử dụng các sản phẩm xanh thay vì nghiên cứu các hành vi thực tế của họ, bởi vì các hành vi thực tế thì kho co thể đo lương được chính xác bằng phương pháp khảo sát qua bảng câu hỏi, mà phải được đo lương bằng tân suất hay sản lượng mua sắm của khách hàng và điều này sẽ kho thực hiện trong giới hạn về thơi gian và nguồn lực hiện co của nhom. Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu trong nước Bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của người dân tại thành phố Trà Vinh” (2019) của Hồ Mỹ Dung và cộng sự đề xuất các hàm ý chính sách để các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm xanh nâng cao nhận thức bảo vệ môi trương và chất lượng cuộc sống cho ngươi tiêu dùng.

Bài nghiên cứu “Các yếu tố thúc đẩy ý định và hành vi tiêu dùng xanh của Millennials Việt Nam” (2020) của TS. Phạm Thị Huyền phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thúc đẩy ý định và hành vi tiêu dùng xanh của thế hệ Millennials Việt Nam, họ đã và đang thay đổi nhận thức cũng như hành vi theo hướng tiêu dùng xanh. Kết quả cho thấy, co 3 nhân tố chính, gồm: kiến thức, thái độ tích cực, trải nghiệm những thay đổi đến từ môi trương xung quanh. Nghiên cứu này co ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm xanh, các tổ chức phi chính phủ cũng như các cơ quan nhà nước và tổ chức công trong việc truyền thông thúc đẩy ý định và lan 7 tỏa hành vi tiêu dùng xanh.

Nghiên cứu đã thừa nhận ứng dụng của TPB để giải thích cho hành vi thân thiện môi trương và sự giới hạn bởi tiền bạc, thơi gian và công sức. Bài nghiên cứu “Xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới và hàm ý đối với Việt Nam” (2016) của Hoàng Thị Bảo Thoa nhấn mạnh tâm quan trọng của công tác quản lí và đưa ra khuyến nghị cho Chính phủ Việt Nam co thể tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác trên thế giới để tiến hành một số chính sách cân thiết và khả thi như chương trình gắn nhãn xanh, chính sách mua sắm xanh trong lĩnh vực công, quy hoạch lại hoạt động tái chế sản phẩm, khuyến khích các doanh nghiệp tạo lập các kênh phân phối và tiếp thị để càng ngày càng co nhiều ngươi tiêu dùng co thể mua được sản phẩm xanh. Nghiên cứu liệt kê chính sách các nước áp dụng và mô tả thực trạng tại Việt Nam nhưng chưa thấy vai trò của ngươi dân trong việc bảo vệ môi trương, đặc biệt là tiêu dùng xanh. Nghiên cứu nước ngoài Bài nghiên cứu “Purchase Intention of Green Product: An Approach Based Customer Orientation” (Tạm dịch: Ý định mua sản phẩm xanh: Tiếp cận từ xu hướng của khách hàng) (2015) của Tarek Abdellatif, Souheila Ayoun, Amal Ben Cheikh & Naima Ghallab đánh giá tác động của khuynh hướng thái độ khách hàng đối với sản phẩm xanh, từ đo phân tích ảnh hưởng của những thái độ này trong ý định mua hàng.

Trong đo co xem xét đến tác động điều tiết của ý thức môi trương và hiệu quả khách hàng cảm nhận trong mô hình nghiên cứu. Kết quả cho thấy rằng các khía cạnh của xu hướng tiêu dùng: định hướng giá trị xã hội, địa vị xã hội, ảnh hưởng xã hội và định hướng bản chất con ngươi co tác động tích cực đến thái độ của ngươi tiêu dùng, từ đo co tác động tích cực đến ý định mua sản phẩm xanh. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra biến điều tiết ý thức môi trương không tác động đến mối quan hệ giữa biến địa vị xã hội và biến ảnh hưởng xã hội với thái độ của ngươi tiêu dùng với sản phẩm xanh. Tác giả đề xuất kết quả của nghiên cứu này co thể là nền tảng định hướng các lựa chọn và hoạt động của những ngươi ra kế hoạch truyền thông của doanh nghiệp để đảm bảo sự hài lòng của khách hàng và thu hút nhiều ngươi tiêu dùng hơn với sản phẩm xanh.

8 Bài nghiên cứu “Green purchase behavior of undergraduate students in Hong Kong (Tạm dịch: Hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên đại học ở Hồng Kông) nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng của nhận thức của sinh viên đại học về truyền thông xanh đối với thái độ của họ đối với môi trương, nhận thức về mức độ nghiêm trọng của vấn đề môi trương và trách nhiệm với môi trương. Nghiên cứu này mô phỏng về kỳ vọng của sinh viên đại học về các phương tiện truyền thông xanh, nhận thức về môi trương và hành vi mua hàng, đồng thơi cung cấp thông tin chi tiết cho các nhà làm truyền thông xanh xây dựng các chiến lược để khuyến khích sinh viên tiêu dùng các sản phẩm xanh. Bài nghiên cứu “Attitude towards the Environment and Green Products: Consumers’ Perspective” (Tạm dịch: Thái độ với môi trương và sản phẩm xanh: Goc nhìn của ngươi tiêu dùng) của Tan Booi Chen thực hiện năm 2010 nhằm đánh giá tác động của giới tính lên thái độ đối với môi trương và các sản phẩm xanh và điều tra mối quan hệ giữa thái độ đối với môi trương và các sản phẩm xanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ