Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Đề xuất giải pháp Chương 6: Hạn chế và hướng mở rộng nghiên cứu 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số các khái niệm 2. Sản phẩm xanh Hiện nay vẫn chưa co một định nghĩa nào thống nhất cho sản phẩm xanh bởi những tiêu chuẩn để định vị sản phẩm xanh vẫn thay đổi theo xu hướng phát triển và nhận thức của ngươi tiêu dùng. Trên các phương tiện truyền thông, cũng co nhiều cách để định vị các sản phẩm xanh.
Theo Banerjee và Charles, 1992, sau khi kiểm kê 173 bản in quảng cáo cho các sản phẩm xanh được biên soạn trong hơn 5 năm, họ đã phát triển một số kiểu phân loại để phân biệt quảng cáo về sản phẩm xanh dựa trên một số sự hấp dẫn và ấn tượng về sản phẩm được mô tả là “xanh” vì chúng nhấn mạnh các thuộc tính môi trương hoặc thuộc tính sinh thái của sản phẩm. Có thể tổng hợp một số đặc tính chung của sản phẩm xanh như sau: Được tạo ra từ những vật liệu thân thiện với môi trương: Nếu sản phẩm chứa các vật liệu tái chế, no co thể được xem là một sản phẩm xanh. Ví dụ sản phẩm được tạo ra từ vật liệu phế phẩm nông nghiệp như rơm hoặc dâu nông nghiệp; Đem đến những giải pháp an toàn đến môi trương và sức khoe thay cho các sản phẩm phẩm độc hại truyền thống: Ví dụ túi ni lông tái chế, bàn chải đánh răng làm từ tre, ống hút làm từ tre, v.; Giảm tác động đến môi trương trong quá trình sử dụng (ít chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì). Ví dụ sử dụng chai thủy tinh thay chai nhựa vì co thể sử dụng nhiều lân, dễ dàng tái chế; Sản phẩm tạo ra môi trương thân thiện và an toàn đối với sức khỏe.
Trong phạm vi bài viết này, sản phẩm xanh được hiểu là những sản phẩm co thể tái sử dụng và hạn chế gây ảnh hưởng đến môi trương cũng như sức khỏe cộng đồng so với các sản phẩm cùng loại; co thể thay thế đồ dùng một lân với chức năng bao goi, hỗ 5 trợ cho việc mua sắm và tiêu dùng, bao gồm: túi vải, ống hút inox, ống hút tre, bình đựng nước inox, hộp nhựa dùng nhiều lân, hộp inox, hộp thủy tinh, v. Tiêu dùng xanh Khái niệm tiêu dùng xanh lân đâu tiên được nhắc đến năm 1970 (Peattie, 2010) và từ đo nhiều nghiên cứu đã mở rộng khái niệm này. Tiêu dùng xanh – “green purchasing” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ việc mua sắm các sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trương. Đo là việc xem xét, cân nhắc các vấn đề môi trương đồng thơi với những tiêu chí về giá cả và hiệu quả sử dụng khi quyết định mua sắm, sao cho giảm thiểu nhiều nhất tác động tới sức khỏe con ngươi và môi trương.
Việc cân nhắc này co thể nhằm vào một hay tất cả tác động môi trương bất lợi trong toàn bộ vòng đơi của chúng. Cân hiểu rằng tiêu dùng xanh không phải là “tiêu dùng ít hơn” mà là biết tiêu dùng hiệu quả hơn, tốt hơn và bớt sử dụng tài nguyên hơn. Tiêu dùng xanh gắn trực tiếp với rất nhiều ưu tiên phát triển khác như giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, giáo dục và bảo vệ môi trương. Tất cả các hoạt động tiêu dùng đều nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.
Vì vậy, tiêu dùng xanh không phải là khuyên tiêu dùng ít đi, mà làm thế nào đáp ứng được nhu câu của ngươi tiêu dùng một cách thông minh hơn. Để giải quyết các vấn đề môi trương, tiêu dùng xanh đã trở thành trọng tâm của ngươi tiêu dùng và doanh nghiệp (Goncalves và cộng sự, 2016; Tariq và cộng sự, 2019). Người tiêu dùng xanh: Ngươi tiêu dùng xanh là ngươi tiêu dùng co ý thức môi trương và họ sẽ cân nhắc những hậu quả về môi trương trong tiêu dùng cá nhân của mình (Webster, 1975). Ở một khía cạnh khác, co thể hiểu ngươi tiêu dùng xanh là ngươi cố gắng sử dụng sức mua của mình để mang lại hiệu quả cải thiện môi trương (Follows và Jobber, 2000).
Đã co rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến tâm quan trọng của giới tre đối với vấn đề môi trương, một số bài nghiên cứu điển hình như các bài nghiên cứu của Ottman và cộng sự, 2006. Tom lại, ngươi tiêu dùng xanh là những ngươi co nhận thức và quan tâm đến các vấn đề sinh thái học và tin rằng, tất cả các sản phẩm và dịch vụ đều co tác động đến môi trương và cân giảm chúng đến mức tối thiểu. Ý định tiêu dùng xanh Ý định hành vi, hay còn được gọi tắt là ý định, là yếu tố đo lương mức độ sẵn lòng của một cá nhân trong việc nỗ lực thực hiện một hành động cụ thể nào đo. Philip Kotler và cộng sự (2001) cho rằng trong giai đoạn đánh giá phương án mua, khách hàng sẽ đánh giá các thương hiệu khác nhau và hình thành nên ý định mua.
Ý định tiêu dùng xanh là khả năng và ý chí của cá nhân trong việc dành sự ưa thích của mình cho các sản phẩm xanh hơn là sản phẩm thương ngày trong việc cân nhắc mua sắm (Rashid, 2009). Vì vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung nghiên cứu về ý định của ngươi tiêu dùng trong việc sử dụng các sản phẩm xanh thay vì nghiên cứu các hành vi thực tế của họ, bởi vì các hành vi thực tế thì kho co thể đo lương được chính xác bằng phương pháp khảo sát qua bảng câu hỏi, mà phải được đo lương bằng tân suất hay sản lượng mua sắm của khách hàng và điều này sẽ kho thực hiện trong giới hạn về thơi gian và nguồn lực hiện co của nhom. Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu trong nước Bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của người dân tại thành phố Trà Vinh” (2019) của Hồ Mỹ Dung và cộng sự đề xuất các hàm ý chính sách để các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm xanh nâng cao nhận thức bảo vệ môi trương và chất lượng cuộc sống cho ngươi tiêu dùng.
Bài nghiên cứu “Các yếu tố thúc đẩy ý định và hành vi tiêu dùng xanh của Millennials Việt Nam” (2020) của TS. Phạm Thị Huyền phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thúc đẩy ý định và hành vi tiêu dùng xanh của thế hệ Millennials Việt Nam, họ đã và đang thay đổi nhận thức cũng như hành vi theo hướng tiêu dùng xanh. Kết quả cho thấy, co 3 nhân tố chính, gồm: kiến thức, thái độ tích cực, trải nghiệm những thay đổi đến từ môi trương xung quanh. Nghiên cứu này co ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm xanh, các tổ chức phi chính phủ cũng như các cơ quan nhà nước và tổ chức công trong việc truyền thông thúc đẩy ý định và lan 7 tỏa hành vi tiêu dùng xanh.
Nghiên cứu đã thừa nhận ứng dụng của TPB để giải thích cho hành vi thân thiện môi trương và sự giới hạn bởi tiền bạc, thơi gian và công sức. Bài nghiên cứu “Xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới và hàm ý đối với Việt Nam” (2016) của Hoàng Thị Bảo Thoa nhấn mạnh tâm quan trọng của công tác quản lí và đưa ra khuyến nghị cho Chính phủ Việt Nam co thể tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác trên thế giới để tiến hành một số chính sách cân thiết và khả thi như chương trình gắn nhãn xanh, chính sách mua sắm xanh trong lĩnh vực công, quy hoạch lại hoạt động tái chế sản phẩm, khuyến khích các doanh nghiệp tạo lập các kênh phân phối và tiếp thị để càng ngày càng co nhiều ngươi tiêu dùng co thể mua được sản phẩm xanh. Nghiên cứu liệt kê chính sách các nước áp dụng và mô tả thực trạng tại Việt Nam nhưng chưa thấy vai trò của ngươi dân trong việc bảo vệ môi trương, đặc biệt là tiêu dùng xanh. Nghiên cứu nước ngoài Bài nghiên cứu “Purchase Intention of Green Product: An Approach Based Customer Orientation” (Tạm dịch: Ý định mua sản phẩm xanh: Tiếp cận từ xu hướng của khách hàng) (2015) của Tarek Abdellatif, Souheila Ayoun, Amal Ben Cheikh & Naima Ghallab đánh giá tác động của khuynh hướng thái độ khách hàng đối với sản phẩm xanh, từ đo phân tích ảnh hưởng của những thái độ này trong ý định mua hàng.
Trong đo co xem xét đến tác động điều tiết của ý thức môi trương và hiệu quả khách hàng cảm nhận trong mô hình nghiên cứu. Kết quả cho thấy rằng các khía cạnh của xu hướng tiêu dùng: định hướng giá trị xã hội, địa vị xã hội, ảnh hưởng xã hội và định hướng bản chất con ngươi co tác động tích cực đến thái độ của ngươi tiêu dùng, từ đo co tác động tích cực đến ý định mua sản phẩm xanh. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra biến điều tiết ý thức môi trương không tác động đến mối quan hệ giữa biến địa vị xã hội và biến ảnh hưởng xã hội với thái độ của ngươi tiêu dùng với sản phẩm xanh. Tác giả đề xuất kết quả của nghiên cứu này co thể là nền tảng định hướng các lựa chọn và hoạt động của những ngươi ra kế hoạch truyền thông của doanh nghiệp để đảm bảo sự hài lòng của khách hàng và thu hút nhiều ngươi tiêu dùng hơn với sản phẩm xanh.
8 Bài nghiên cứu “Green purchase behavior of undergraduate students in Hong Kong (Tạm dịch: Hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên đại học ở Hồng Kông) nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng của nhận thức của sinh viên đại học về truyền thông xanh đối với thái độ của họ đối với môi trương, nhận thức về mức độ nghiêm trọng của vấn đề môi trương và trách nhiệm với môi trương. Nghiên cứu này mô phỏng về kỳ vọng của sinh viên đại học về các phương tiện truyền thông xanh, nhận thức về môi trương và hành vi mua hàng, đồng thơi cung cấp thông tin chi tiết cho các nhà làm truyền thông xanh xây dựng các chiến lược để khuyến khích sinh viên tiêu dùng các sản phẩm xanh. Bài nghiên cứu “Attitude towards the Environment and Green Products: Consumers’ Perspective” (Tạm dịch: Thái độ với môi trương và sản phẩm xanh: Goc nhìn của ngươi tiêu dùng) của Tan Booi Chen thực hiện năm 2010 nhằm đánh giá tác động của giới tính lên thái độ đối với môi trương và các sản phẩm xanh và điều tra mối quan hệ giữa thái độ đối với môi trương và các sản phẩm xanh.